Tin tức tổng hợp, web site tin tức

Kênh thông tin giải trí hàng đầu

Tin tức trong nước 24 giờ qua được cập nhật thường xuyên và nóng hổi

Cùng tim hiểu, khám phá những dang lam thắng cảng Việt

Những Danh lam thằng cảnh tuyệt đẹp, nơi sưu tầm những danh lam thắng cảnh đẹp nhât hiện nay

Những khu du lịch sinh thái đẹp nhất

Du lịch Việt, Những danh lam thắng cảnh đẹp nhất

Du lịch Biển đẹp

Tham gia những tuor du lịch tới mọi miền thế giới

Khám phá thiên Nhiên kì thú

Cùng tham gia khám phá những bí ẩn thiên nhiên kì thú

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Ra khỏi cánh rừng, chân trời phía trước

Người ta vốn tin rằng có những con số may mắn, những con số rủi ro, những con số linh thiêng và những con số đáng nguyền rủa. Khi quân xúc xắc gieo xuống, đố ai biết nó lăn theo hướng nào. Người công dân thứ sáu tỉ trên hành tinh của chúng ta sẽ mang quốc tịch nào đây?... đó là câu trả lời của một đấng linh thiêng không nhìn rõ mặt.

Trong khoảng thời gian chờ đợi, tôi xin mạn phép giả dụ rằng đứa bé mang con số đặc biệt kia sẽ chào đời tại một vùng đất đói nghèo khốc hại xứ Somalia hoặc trong một cung điện lộng lẫy như Buckingham, hai địa danh có thể tạm coi như địa ngục trần gian và thiên đường cõi thế. Nếu đứa bé đó cất tiếng khóc chào đời dưới mặt trời bỏng giãy Somalia, âm thanh đầu tiên tưới rót vào tâm hồn nó sẽ không phải giai điệu của bài hát ru mà là tiếng đạn bom, tiếng vo ve của những bầy ruồi, tiếng vỗ cánh của lũ chim ăn xác. Mùi vị đầu tiên nó cảm nhận sẽ không phải mùi hoa cỏ, mùi lúa chín, múi trái cây mà là mùi máu tươi và máu khô, mùi thối rữa của các tử thi và mùi thối rữa của thực phẩm trong khẩu phần thường trực...

Nếu đứa bé ấy may mắn sống sót cho đến tuổi trưởng thành, tôi cầu xin Thượng Đế đã dung dưỡng sinh linh ấy ban phát cho nó khả năng nhận thức về thân phận của mình cho dù trí não nó chưa kịp nở bừng đã tàn héo và mê mụ đi trong sự tê liệt của cùng khốn và nhàm chán. Nhận thức về thân phận của chính mình là phẩm chất quan trọng để làm người. Như vậy, đứa bé Somalia sẽ tin rằng số phận con người vốn là thế: vốn sinh ra giữa một cặp đùi gầy guộc và bẩn thỉu, vốn phải chịu đựng đói khát và bị xua đuổi, bị tàn sát như một loài vật yếu đuối hay sâu bọ nếu như nó không đủ khả năng để hiểu rõ thân phận chính mình. Xin Thượng Đế hãy cho nó ơn huệ ấy. Xin hãy mở to đôi mắt nó, hãy cho nó cơ hội nhìn thấy một cuộc sống khác nhân loại khác vì chỉ như thế nó mới ý thức được chính mình. Người ta phải ra đi mới có trở về. Trở về với chính mình là cuộc trở về khó khăn và quan trọng nhất.

Trong trường hợp thứ hai, nếu đứa bé được sinh ra ở Buckingham, cuộc sống của nó được định vị giữa nhiều lớp rào chắn, những lớp rào kiên cố được dựng lên nhằm tránh cho nó những hiểm hoạ, rủi ro của cuộc đời đầy biến động và ô nhiễm. đứa trẻ may mắn kia được chuẩn bị để trở thành một tiểu thiên thần. Tôi cầu xin Thượng Đế hãy ban cho tiểu thiên thần ấy một trí tưởng tượng siêu việt. Để tâm hồn nó có thể vượt qua những lớp rào chắn của cuộc sống phù hoa chạm tới những cõi đời khác, xúc cảm những nhân loại khác, thấu hiểu rằng có những gian truân và những khổ đau nó không hình dung nổi...

Trí tưởng tượng cũng là một phẩm chất cao quý của con người. Không có nó, chắc chắn con người không thể cảm thông, không có tình thương, sự khoan dung, lòng nhân hậu. Không có các hội cứu tế, tương tế, từ thiện. Không có mẹ Teresa và các bà xơ. Trí tưởng tượng khởi đầu cho một chuỗi những cảm xúc, suy tư, những giả thuyết trí tuệ, sự ăn năn và những ý định tốt đẹp nhằm cứu vớt phần nhân loại đắm chìm trong cùng khốn và mê muội. Đôi khi sự thiếu hụt trí tưởng tượng có thể dẫn đến những tội ác ngoài ý muốn.

Một đứa con chủ trại mười bốn tuổi lần đầu tập bắn đã nhằm đúng trán đứa bé khác bởi vì nó không hình dung một con người có thể rúc giữa đám gai nhọn, nó ngỡ đó là con chồn con cáo hoặc loài thú nhỏ nào đó sống ven rừng. Đứa bé kia rúc giữa đám gai nhọn vì muốn đánh cắp những mẩu gỗ bên trong hàng rào của chủ trại. Gia đình túng bấn và mẹ nó giao cho nó phận sự phải kiếm cho đủ củi về đun. Sự việc thật giản đơn. Một tiếng súng nổ. Và một sinh linh lìa bỏ cõi đời. Có ai nghe thấy tiếng thở dài của Thượng Đế chăng?... Tôi chưa nghe thấy. Trí tưởng tượng là sản phẩm của con người nhưng đồng thời lại là một trong các vật liệu cấu tạo nên con người. Nó không dành riêng cho các diễn viên. Lượng diễn viên chuyên nghiệp so với tổng số nhân loại quá nhỏ bé. Trí tưởng tượng là một tiêu chuẩn đo tính người.

Không phải vô cớ mà người ta định nghĩa: Con người là con vật ảo tưởng.

Vì sao chúng ta lại ảo tưởng. Bởi chúng ta là Con Người. Giữa một loạt các khái niệm: trí tưởng tượng, ảo tưởng, hi vọng, ước mơ, utopie và hallucination không có những ranh giới với các đồn biên phòng được canh gác nghiêm cẩn. Chúng là những miền đất giáp ranh và những no man s land chúng chơi trò đổi chỗ giống như các bóng ma đùa rỡn lúc vào đêm. Trong tiến hoá, mọi sinh vật thường không thoả mãn với các điều kiện sẵn có của chúng mà luôn luôn tìm kiếm một môi trường khác để kiến tạo những ổ sinh học tốt hơn cho bản thân. Chúng ta cũng vậy thôi, chúng ta cũng trăn trở năm này qua tháng khác, khắc khoải ngày đêm để tìm kiếm cho mình một cuộc sống tốt đẹp hơn. Cái mà nơi sinh vật là "ổ sinh học tối ưu " nơi chúng ta gọi là Sự hoàn thiện. Đó là khuynh hướng chủ đạo của cuộc nhân sinh.

Nhưng sự hoàn thiện là chân trời đối diện, chúng ta càng tiến đến, nó càng lùi ra xa. Nó là Thượng Đế không nhìn rõ mặt, là vị thần toàn năng và bất tử nhưng chỉ toàn năng và bất tử khi được che khuất bởi những đám mây dày đặc trên đỉnh Olympe để người đời sáng tạo gương mặt mình theo nét vẽ của họ. Vậy vì cớ gì chúng ta mãi theo đuổi vào trò chơi vô tận này. Cuộc đuổi bắt mà kẻ theo đuổi khốn khổ là chúng ta đây biết chắc chắn rằng chẳng bao giờ tới đích...

Vâng... Chúng ta theo đuổi vì chúng ta biết rằng đó chính là bản chất đời sống. Ngoại trừ một bộ phận nhân loại đắm chìm trong đói khát nhục nhằn chết chóc, chỉ dám tìm kiếm sự tồn tại chứ không tìm kiếm cuộc sống thật sự và cuộc tồn tại đó chỉ ngang giá với sự tồn tại của cỏ cây, còn những ai ý thức về thân phận người, về nhân cách và thấu hiểu ý nghĩa cuộc sống đều phải dấn thân vào trò chơi đó. Chúng ta sống là để tìm kiếm một Thượng Đế không nhìn rõ mặt, một giá trị mới đang còn ẩn náu nơi chân trời xa ngái, sau những lớp mây và những đám sương mù. Con người chẳng bao giờ sống đủ với những thứ họ đã nhìn thấy trước mắt, họ đã nắm trong tay, họ đã cất vào các ngăn tủ. Con người sống bởi Cái sẽ đến. Cái sẽ là. Tất cả những lao động nhọc nhằn, thử nghiệm, ước mơ, khắc khoải, hi vọng và tìm kiếm không ngưng nghỉ là để tìm kiếm một cái mới, tốt đẹp hơn, cái chưa nhìn thấy.

Sống là phiêu lưu. Không cuộc phiêu lưu nào hứa hẹn một kết quả chắc chắn. Chúng ta nhảy xuống biển bơi tới bãi bờ phía trước vì nghe thấy tiếng gọi của Thượng Đế vọng trong chính tâm hồn khao khát của chúng ta chứ không vì một cú điện thoại tại một hải cảng đã chờ sẵn bên kia bờ đại dương. Biển nào cũng dung chứa xác tàu bè và hài cốt người dưới những lớp sóng màu lam. Biển nào cũng có những bầy sirène và các tam giác quỉ. Và như thế, khả năng sai lầm của con người là thứ rất khó kiểm soát và thường chỉ được nhận diện sau khi sự việc đã xảy ra. Giờ đây, hẳn còn có những người ngẩn ngơ tự hỏi: Vì sao giữa lòng Châu âu thế kỉ 20 lại nảy sinh ra những lò thiêu người - giữa mảnh đất mà nền văn minh Hi-Lạp cổ đã tẩm đậm và phù trợ, nơi tâm hồn con người được thanh lọc và thăng hoa trong ánh huy quang của thời Phục Hưng, nơi trí óc con người được chiếu rọi bởi Thế kỉ ánh sáng?...

Thế đấy, đã từng như thế. Vậy các công dân của thế kỉ mới, xin các vị hãy dè chừng. Lớp vỏ của nền văn minh rất đỗi mong manh, nó có thể bị gãy vỡ ở những nơi và vào những lúc ta ít ngờ tới nhất. Người xưa nói: Bóng tối ở ngay dưới chân đèn. Chúng ta thường mắc bẫy ở những nơi ta tin chắc rằng vô sự. Con người sáng tạo ra ngôn từ nhưng lại bị chính ngôn từ lừa mị dẫn dắt và họ biến thành nô lệ của một tôn giáo, một hệ tư tưởng hoặc một đảng phái. Từ khát vọng vươn lên một thế giới tốt đẹp hơn, họ đã rơi xuống bãi lầy ở nơi đó giữa bùn đen, họ phải chấp nhận trở thành những kẻ tàn ác, đểu giả hoặc đớn hèn, trong cả hai chiều hướng tính Người đều giảm thiểu và tính Không Người gia tăng bù vào khoảng trống. Đây không phải trường hợp của vài cá nhân, thậm chí vài ba triệu người.

Vậy thì những công dân tương lai của hành tinh, xin các vị hãy biết cảnh giác với các luận thuyết và các ngôn từ, chúng ta tinh khôn hơn loài vật nhưng chúng ta mỏng manh hơn chúng. Loài vật không suy nghĩ, chúng tìm kiếm và kiến tạo những ổ sinh học mới theo bản năng, trong bản năng ấy Thượng Đế đã cho chúng một khả năng tiên liệu. Chúng ta là con người, chúng ta sáng tạo nên ngôn ngữ xây thành đắp luỹ cho thế giới người bởi chính ngôn ngữ rồi đôi khi chúng ta lạc lối chết ngạt trong các thành luỹ giống như kẻ xây một mê cung rồi bị cầm tù trong chính mê cung ấy chẳng tìm được lối ra.

Các vị, những kẻ hậu sinh, các vị có thể quên hết những cái tên hãi hùng của lịch sử: Hitler, Stalin, ... Vâng, các vị có thể quên hết đi, đó là quyền của các vị. Nhưng chớ bao giờ quên khả năng có thể lầm lạc của con người. Bởi con người không quá hùng mạnh như hằng tưởng. Chúng ta không khoẻ như hùm beo gấu sói. Chúng ta không thể quay mọi chiều như con sâu, không chạy nhanh như đà điểu, không đánh hơi tài như chó, không cảm nhận và tiên liệu thời tiết nhạy bén như loài ong... Nhưng chúng ta sẽ mạnh nếu chúng ta biết sử dụng trí khôn. Và một phần rất cốt lõi của trí khôn được hình thành trên những nghiệm sinh trực tiếp và gián tiếp.

Những kinh nghiệm khốc hại của các thế hệ trước sẽ trở thành tài sản của các vị nếu các vị biết sử dụng. Lịch sử không tiến lên theo cùng một nhịp điệu, không đều đặn liên tục một cách máy móc. Nhưng đừng hi vọng cắt thời gian thành từng lát như cắt bánh mì. Nghĩ như thế là tự sát. Lịch sử có các bước nhảy, những chỗ thụt lùi, lúc nhanh lúc chậm, khi rực rỡ khi tăm tối... nhưng nói chúng vẫn là dòng chảy, và trên tổng thể, theo chiều lên cao. Con người càng ngày càng Người hơn, tự do hơn.

Xa xưa, chúng ta sống thành bộ lạc và theo lệnh của kẻ cầm đầu bộ lạc chúng ta giết người của bộ lạc bên cạnh, cách chúng ta một cánh rừng. Sau rồi, sống theo đơn vị quốc gia chúng ta tiến hành chiến tranh với quốc gia bên cạnh theo lệnh quốc vương hay ngài tổng thống. Giờ đây, không gian sinh tồn được mở rộng. Những thay đổi về cấu trúc hành chính đem lại chiều kích tự do mới cho con người. Càng ít phụ thuộc vào một hệ thống kín nào đó con người càng Người hơn, càng tự do hơn. Và cùng với những tiến bộ của nền văn minh con người ngày càng mạnh. Christophe Colomb phát hiện ra châu Mỹ với các thuyền buồm chứ không phải tàu du hành vũ trụ. Mỗi thời đại có chân trời riêng của mình. Đà bay của các công dân thế kỉ sau sẽ rộng hơn đà bay của chúng ta.

Tuy nhiên, tôi vẫn thường nghĩ tới hình ảnh con người đầu tiên rời bỏ cánh rừng tiền sử, phóng tầm mắt lo âu về chân trời phía trước. Anh ta có sợ hãi chăng?... Hiển nhiên là có. Anh ta đã quen ẩn trong hang đá, núp dưới vòm cây, quen cái ổ sinh học được định vị. Giờ đây anh ta rời bỏ chốn ấm êm đó, tiến về bình nguyên... Một không gian xa lạ. Trống trải. Mênh mông. Không nơi trú ngụ. Một bầu trời hoang vu kinh hoàng. Không cành lá, không chim chóc. Một bao la ngập lụt. Nhấn chìm. Hù doạ. Sấm sét. Bão giông. Mặt trời thêu đốt... Nhưng con người sợ hãi đó đã cố vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân, vươn thẳng lưng cất bước. đẹp thay. Dũng mãnh thay hình ảnh đó. Tổ tiên chúng ta đã khởi đầu lịch sử bởi khảnh khắc đầu tiên rời bỏ cánh rừng, tiến về phía bình nguyên.

Từ đó tới nay bao nhiêu trang sử đã lật qua?... Bao nhiêu nước đã chảy trôi dưới những chân cầu?... Nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại hình ảnh của tiền nhân. Bởi mãi mãi sống vẫn đồng nghĩa với hiểm nguy. Và mỗi khi mường tượng tới cuộc dấn thân của những công dân tương lai tim tôi vẫn thắt lại vì khắc khoải và đâu đó, giữa mớ cảm xúc và ý tưởng hỗn độn trong óc não tôi, có cái gì như tiếng kêu câm nín, có cái gì như nỗi lo âu không thể cất lời, có một nỗi sợ hãi ẩn náu dưới tiếng thét điên cuồng thúc hối: Ra đi!... Vâng. Như thế đấy... Và phải chăng đó chính là thân phận vĩnh cửu của con người?... Bởi thế, tôi xin chúc những con người của ngày mai có đầy lòng can đảm để ra khỏi cánh rừng và tiến về phía chân trời phía trước. 

Dương Thu Hương
Theo ghi chú thì Bài viết này được xuất bản trong tập Những lá thư gửi cho người công dân thế giới thứ 6 tỉ (Letters to the Six Billionth world Citizen) sẽ phát hành cuối năm 1999. Vì lý do tế nhị, Tự hiểu mình's Blog đã tự điều chỉnh một vài chổ cho phù hợp!
Nguồn: 4phuong.net

Sống giản đơn

Một chén trà thơm trong nắng mai, một  mái nhà đơn sơ giản dị, với những gì thật đơn giản nhẹ nhàng… là những gì ta có thể quan niệm về một lối sống đơn giản và an nhàn. Điều này rất dễ nhận ra. Nhưng giữa một xã hội xô bồ, đầy những tiện nghi vật chất quyến rũ, làm sao ta có thể tìm thấy được một lối sống có thể gọi là an nhàn và đơn giản. Đó là vấn đề.

Đánh giá một bức tranh với mặt hồ là một tấm gương  tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng, mà bảo là một cảnh trí thanh bình êm ã thì không phải là khó. Nhưng với một bức tranh có những ngọn núi đá trần trụi lởm chởm, bầu trời thì đen kịt và giận dữ, mưa trút xuống dữ dội làm nên những dòng thác hung hãn đổ ào ào nổi bọt trắng xóa. Trong đó tìm cho ra một sự bình an của con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình trong cơn giông tố thì cần phải có một con mắt tinh đời.

Và khi chiêm nghiệm, định giá hai bức tranh kia, người thưởng thức nghệ thuật mới nhận ra một điều được thể hiện thầm kín vô ngôn trong đó: Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không có khó khăn cực nhọc. Bình yên là ngay trong phong ba bão táp ta vẫn tìm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó chính là ý nghĩa thực của sự bình yên. Cũng vậy, sự đơn giản thực sự chỉ có được khi phát xuất từ một tâm trạng an nhàn và vô sự, hay đúng hơn là sự đơn giản từ nội tâm.

Chúng ta đã tự mình vẽ nên bức tranh hoảng loạn của thời đại và đau khổ, buồn vui trong đó, với những trận cuồng phong, những dòng thác lũ của dục vọng. Nói khác đi, chính dục vọng đã âm thầm thúc đẩy con người đi đến xây dựng một thế giới mà trong đó nó phải chịu đựng tất cả.

Dục vọng là gì? Dục vọng là những tham vọng thèm khát về tài sản, địa vị, quyền thế, về tiện nghi vật chất, về tham vọng được yêu thương chiều chuộng, và thậm chí còn ưa muốn với tới những gì trường tồn vĩnh cửu bất di bất dịch, một cái gì làm thỏa mãn tư dục lâu dài. Tất cả những thứ này đã làm xáo động tâm tư và đời sống của chúng ta. Dục vọng luôn luôn phải có một nội dung là biểu tượng và cảm giác hướng tới đối tượng của chính nó. Biểu tượng có thể là một bức tranh, một hình ảnh, một người, một lời nói…

Tóm lại là toàn thể những đối tượng thuộc về lục trần, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tất cả những thứ này có thể mang lại một khoái cảm, một cảm giác nào đó và chúng ta nảy sinh một cảm giác yêu ghét (xúc thì sinh ái). Nếu cảm giác có thể dễ chịu, nhẹ nhàng, thì ta muốn được nó, có nó và nắm giữ đối tượng ấy và tiếp tục truy cầu những gì thỏa mãn với những tình cảm của mình. Tâm tư luôn biến động thay đổi, muốn tìm cầu cái mới để tiếp tục thỏa mãn và vì vậy, nó bắt đầu thấy đầy ứ, chán chường mệt mỏi với những hình thức tiếp thọ cũ mà tìm kiếm một cái gì đó mới lạ hơn nhằm thay thế và khỏa lấp sự chán chường ấy. Cứ như vậy tâm cứ rong ruỗi theo những đối tượng của dục vọng. Hiển nhiên khi bị lệ thuộc bởi những đối tượng của lòng tham vọng thì nỗi sợ hãi bất như ý luôn quấy động tâm tư. Bởi 'thân người thì hữu hạn mà ước muốn lại vô cùng' nên ước muốn là mầm móng của những nỗi bất an.

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm kiếp phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm đường [1]

Tất cả những sự kiếm tìm, theo đuổi của tham vọng trên đều xoay quanh một trung tâm điểm duy nhất là bản ngã hẹp hòi. Chán chường mệt mỏi với một đối tượng nào đó ta lại tìm cách lấp đầy bản thân bằng một tham vọng khác. Cứ như thế, với ảo tưởng muốn đem lại sự bình an hạnh phúc cho cái 'tôi', ta lại dễ đánh mất mình trong sự truy cầu ấy. Và cuối cùng còn lại sau hậu trường là một sự trống rỗng khủng khiếp của tâm hồn, trở thành kẻ vong thân trong thế giới nội tại.

Thiền sư Suzuki, trong Thiền và Tâm phân học, nói: "Ở đâu chủ nghĩa cá nhân được nhấn mạnh, ở đó cảm giác hỗ tương câu thúc hay căng thẳng ngự trị. Ở đây không có tự do, không có tự nhiên, mà có một không khí hay cấm chế sâu xa, nặng nề đàn áp và đè nén, ức chế người ta và kết quả là đủ thứ hỗn loạn tâm lý"[2]. Như khi ta nói đến cái 'triết lý quần áo' của thế giới biểu hiện thời hiện đại, mọi người ăn mặc vì tất cả mọi người. Hay nói đúng hơn là muốn thể hiện mình trước con mắt phê bình và chỉ trích của mọi người theo quy cách của thời đại. Sự kiện đó chỉ là sự thể hiện mình thành cái gì khác hơn là mình. Điều ấy thú vị, nhưng khi nó đi quá xa, ta đã mất đi cái đặc tính của mình mà trở thành xa lạ.

Quả vậy với phương cách này, càng ngày ta càng trở nên xa lạ với chính mình, 'ngày hết quê xa vạn dặm đường', xa với thực tế sự liên hệ giữa mình với người khác, với nhiên giới trong tiến trình khổ đau cũng như hạnh phúc. Ta quên rằng sự truy cầu cho chỉ riêng cá nhân theo tư dục bản năng chỉ đưa tới khổ đau. Con người hiện đại vong bản đến mức chỉ còn thấy mình tồn tại để hưởng thụ và rồi chán chường tuyệt vọng trong một cuộc sống vô nghĩa lý như một nhà xã hội học, ông Erich Fromm, đã nói về con người hiện đại: "Tôi không cần biết bản thân mình là ai vì luôn luôn tôi bận hưởng thụ" Và "Nó sẽ trở thành những con quỷ, nó sẽ tiêu diệt thế giới của bản thân nó, vì không thể chịu đựng hơn nữa sự buồn chán của một cuộc sống vô nghĩa."[3]

Sự đơn giản chỉ có thể xảy ra trong nội tâm. Và sự đơn giản ấy chỉ có thể có được khi nào ta hiểu được những trở ngại, những cố chấp, sợ hãi mà chúng ta đang vướng kẹt. Tất cả chúng ta nói chung, đang 'thích' vướng mắc, thích bị ràng buộc trong nhân thế, trong những vật sở hữu càng nhiều càng tốt, thích là kẻ tù tội lao lung. Trong tâm tư chúng ta đang là kẻ bị trói buộc, dẫn dắt bởi những tham vọng, những thèm khát, những ham muốn và dao động bởi những tâm lý tương tự.

Sự đơn giản bình an chỉ có được khi những tác động ấy được chấm dứt, hay là được tự do. Sự  phát hiện bên ngoài chỉ là dấu hiệu của trạng huống bên trong tâm thức, và muốn hiểu được trạng huống bên trong tất nhiên phải đi bằng con đường ngoại giới. Như soi gương, hình ảnh trong gương chỉ là những biểu hiện của sự kiện thật bên ngoài. Muốn thấy được mình thì phải nhìn trong ảnh tượng ấy, nhưng để sửa đổi lại không thể thọc tay qua tấm gương được. Chính sự quan sát thâm sâu thế giới ngoại tại như sự hiện thể của nội tâm mình, chúng ta thấy rằng cần thiết phải có một lối sống ít ham muốn, biết vừa đủ, hay là đơn giản để đem lại bình an cho mình, và cho thế giới bên ngoài. Ai dám chắc rằng điều xảy ra đối với người kia hôm nay không liên hệ tới mình và ngày kia sẽ không xảy ra đối với mình.

Kinh Bát Đại Nhân Giác nói: "Càng lắm ham muốn lại càng nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều do ham muốn mà có. Trong khi đó, người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân và tâm mình được nhẹ nhàng và thư thái."[4] Trong tâm còn có một đối tượng nào để tìm cầu, dù là danh tiếng lương thiện, ly dục, thì sự đơn giản hay tri túc chưa thể nói tới một cách trọn vẹn.

Sự đơn giản thực sự phải là tinh thần vô nguyện, không mong cầu, tức là không đặt bất cứ một đối tượng nào để chạy theo nó. Còn chạy có nghĩa là tâm vẫn chưa được an trú. Lòng khao khát có nhiều hơn nữa, sự theo đuổi những biểu tượng, những tiếng, những lời, những hình ảnh, với những cảm giác do chúng tạo ra, tất cả những điều này phải được nhận diện và chuyển hóa, có thế tâm trí mới mong trở nên sáng tạo, nơi trạng thái sáng tạo này, sự mới lạ luôn luôn xuất hiện. Sự sáng tạo ấy là sự thức tỉnh của tâm trí để đón nhận những gì mới mẻ xảy ra trong thế giới chuyển biến vô thường.

Trong tiến trình thức tỉnh ấy, ta thấy tham dục chẳng có ý nghĩa nào đối với một người thực sự đi tìm lẽ sống. Cố nhiên ta không thể bỏ qua những nhu cầu sinh hoạt, nhưng không nên để cho những nhu cầu ấy trở thành trung tâm điểm của lòng tham dục. Một người có tâm hồn giản dị, không mong cầu là người thực sự luôn an trú trong trạng thái tĩnh lặng và sáng suốt cùng hiện hữu. Người này thực sự là một kẻ có đầy đủ bản lĩnh để sống bình an trong cơn cuồng phong nộ thủy của thế giới ngoại tại. Nhưng con đường nào đưa tới bình an? Bình an chính là con đường (peace is the way). Chính vì vậy, sống an bình trong mỗi phút giây là đang thực hiện con đường bình an. Nguyễn Công Trứ nói: "Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc, tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn".

Tâm ta mong cầu không bao giờ biết dừng lại, chờ cho đủ thì đến bao giờ mới đủ. Biết đủ, an nhiên chấp nhận những gì mình có để sinh hoạt thì tự khắc mọi cái đều trở nên không còn thiếu thốn. Biết sống an nhàn trong đời sống này, đừng so sánh nó với ai, đừng đợi đến khi nào đó mới hưởng nhàn, thì lập tức sự an nhàn có mặt. Còn mong đợi tức là còn khắc khoải hoài vọng, tức là còn thấy thiếu thốn, bấy giờ đã đánh mất đời sống qúy báu của mình trong hiện tại. Cố nhiên có những ham muốn lại mang ý nghĩa của những nhu yếu đích thực có lợi cho sự an lạc của thân tâm trước hết cho chính bản thân mình và sau đó là nền tảng để thực hiện niềm vui cho tha nhân. Đó là sự thực tập Từ Bi, ước muốn đem hiến dâng niềm vui và giúp người bớt khổ.

Sống nhàn, sống an tịnh là vậy, nên ta bắt gặp một thái độ sống đơn giản mà giải thoát tuyệt vời của các vị thiền sư trong tinh thần phá chấp. Cái tinh thần mà mọi cơ trí, tình thức đều bị quét sạch hết. Có người còn gọi trạng thái tinh thần ấy là "Nghèo". Các thiền sư nghĩ đến cái nghèo thiết thực và thơ mộng hơn; các ngài gợi thẳng đến việc của thế gian, đến những gì rất gần gũi. Thiền sư Vô Môn (1183-1260) cảm tác:

Hoa xuân muôn đóa bóng trăng thu
Hạ có gió vàng đông tuyết rơi
Tuyết nguyệt phong ba lòng chẳng chấp
Mỗi mùa mỗi thú mặc tình chơi.[5]

Bài thơ không ngụ ý tác giả chỉ ăn không ngồi rồi, không làm gì khác, hoặc không có gì để làm khác hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hoặc ngắm vầng trăng đìu hiu; không, có thể tác giả đang say sưa làm việc, đang giảng giải, đang tụng kinh, đang quét chùa, dãy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm thanh tịnh khinh an… Tâm họ là tâm "không", thân họ là thân "nghèo". Vì nghèo nên họ thưởng thức được hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Nếu của cải của thế gian chứa chất đầy con tim thì còn chỗ nào cho những lạc thú thần tiên ấy? Các thiền sư quen cái giàu phi thế tục của sự giàu có muôn vật trong đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá đủ lắm rồi. Đó là tinh thần tự do thực sự, mà phải 'Nghèo' kia mới được tự do, như nhà văn Dante đã nói "ai không thể sống nghèo không thể có tự do", ấy mới thực là chí lý.

Các ý thức hệ tôn giáo, đảng phái, có thể đưa tới những đấu tranh là bởi cố thủ cái kiến chấp của mình. Chất chứa kiến thức như vậy cũng là một sự ham muốn. Tâm trí chứa đầy những kiến thức về những sự kiện, về những gì người khác đã nói, có thể dễ dàng ảnh hưởng bởi một ý thức hệ nào đó, và cuối cùng tạo nên những thành kiến. Khi nhận thức một sự vật, đầu óc rối rít những tri kiến như vậy, khiến ta không có khả năng sống giản dị và tự mình trực nghiệm. Sự việc được nhận thức qua một mớ định kiến đã trở nên méo mó và sai lạc. Càng chất chứa càng tạo thành cố chấp. Kiến thức đối với thiền cũng ví như của cải, là tích trữ tài sản, nó phải cần buông bỏ. Đó là thực hiện tinh thần nghèo và khiêm hạ. Có thể biết rất nhiều, nhưng làm như không biết gì cả, đó mới thực là cái biết rộng lớn, nói như biện chứng của kinh Kim Cang. Quả thực biết mà còn thấy mình đã biết thì rất dễ thỏa mãn và kiêu ngạo. Thái độ đó sẽ không học hỏi gì hơn từ con người và thế giới tự nhiên. Chén trà đã đầy thì không còn rót thêm vào được nữa.

Trong những điều kiện thực tế nội tại của thân năm uẩn, nếu nhìn cho kỹ, quan sát cho thấu đáo, thì mới thấy rằng còn đôi mắt sáng là niềm vui, thân thể khỏe mạnh, cử động tự do linh hoạt là một phép lạ v.v… Vì cố chạy theo những đối tượng hình sắc bên ngoài mà đôi khi ta đã bỏ quên những điều kiện hạnh phúc an vui trong tầm tay. Bầu trời xanh trong, mặt đất thầm lặng, với bao nhiêu cảnh tượng tuyệt vời sẽ không bao giờ hà tiện với chúng ta. Cái cốt yếu là biết đúng lúc đặt gánh nặng của những âu lo toan tính để sống lại với chính mình, với thiên nhiên mà thôi.

Trong đời sống xã hội hiện đại, nền văn minh vật chất đã bộc lộ những mặt tiêu cực của nó. Con người thì nhân tính bị tước đoạt trong những guồng máy của sản xuất và tiêu thụ. Tâm tính cũng như khối óc họ mệt mỏi. Đời sống trở nên hời hợt và vô vị. May mắn là con người đã bắt đầu nhìn ra và quay trở về với lối sống đơn giản, đời sống thiền tập, chống lại lối sống tiện nghi vật chất và máy móc, không để cho lối sống hưởng thụ khống chế. Được làm người chính là nhu yếu căn bản mà con người đã từng kiếm tìm và cũng đã vô tình bít lấp.

Sống đơn giản không có nghĩa là khước từ toàn bộ những tiện nghi cần thiết cho sự sống và tiến bộ. Nhưng hai chữ tiến bộ cần phải hiểu nó trong toàn diện tinh thần và vật chất. Nếu đời sống tâm linh bị đánh mất thì sự sống cũng lạc hướng và tiêu hoại. Phải can đảm lắm, sâu sắc lắm mới ăn nói, hành động và suy nghĩ cách 'đơn giản' giữa thời đại xa hoa này. Chúng ta không mong cầu một cuộc sống bình lặng như bức tranh tuyệt mỹ kia mà chính trong sóng gió làm sao để giữ được một phong thái, một thế đứng vững vàng trong thế cuộc. Đó là ý nghĩa của nếp sống biết buông bỏ, một lối sống đơn giản tự chủ trong tâm hồn.

Quảng Thông
Nguồn: phathoc.net

[1] Nguyễn Lang, “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược", cuốn 1, tr. 296:

Tỷ trước chư hương thiệt tham vị
Nhãn manh chủng sắc nhĩ văn thanh
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.

[2] Suzuki, ‘Thiền và Phân tâm học’ tr. 70, Như Hạnh dịch, Kinh Thi xuất bản lần thứ nhất.

[3] Erich Fromm, ‘The Present Human Condition’.

[4] Thiền môn nhật tụng – 2000, Nhất Hạnh dịch.

[5] Suzuki, ‘Thiền luận’ quyển 1, tr. 577, Trúc Thiên dịch, An Tiêm xb 1970.

Thoát khỏi sự kỳ vọng của xã hội

Đối với tôi và chặng đường tôi đã đi, tôi nhận thấy rằng có quá nhiều người đã và đang sống trong một thế giới "được vẽ lên từ những kẻ khác". Họ sống một cuộc sống dựa trên sự kỳ vọng của gia đình, của xã hội. Họ sống như những con rối được điều khiển bởi những thứ bên ngoài lẫn bên trong; như những con rô-bốt mà khi một ai đó bấm nút "giận dữ", họ giận dữ; bấm nút "vui vẻ", họ vui vẻ. Họ mô tả hạnh phúc như những "miếng đường chợt tan trên đầu lưỡi", nó là một thứ gì đó tạm bợ và thấp hèn. Hạnh phúc trong họ bị phụ thuộc vào chính những kẻ thao túng họ cả ngoài lẫn trong. Tình yêu và chân lý, tất cả chỉ là những ảo tưởng trong con mắt của những kẻ ảo mộng. Đó là những kẻ say nhưng luôn miệng nói rằng mình tỉnh táo, là những kẻ ngủ mê nhưng luôn nghĩ rằng mình đang thức tỉnh.

Đối với tôi, một khía cạnh lớn của sự thức tỉnh diễn ra khi bạn thực sự thoát khỏi sự kỳ vọng của xã hội (Society Expectation). Khi bạn không còn quan tâm đến những gì xã hội này muốn bạn phải trở thành, bạn thực sự tự giải phóng chính bản thân mình. Phần lớn mọi người sống để kiếm thật nhiều tiền, để trở thành một người nổi tiếng, hay đơn thuần chỉ để làm hài lòng gia đình, bạn bè, người yêu họ. Họ sống nơm nớp trong sự lo sợ; lo sợ rằng những gì họ làm có khi nào là “sai” hay không. "Tôi có nên làm hay không nên làm điều này, điều này có làm mọi người xa lánh tôi hay không, tôi mong cô/anh ấy không ghét bỏ tôi, hy vọng tôi sẽ không cô đơn trong thế giới này".

Bạn thấy đó, phần lớn mọi người sống trong nỗi sợ của sự chối bỏ từ người khác, từ xã hội. Họ sợ một nỗi sợ bị khước từ, một nỗi sợ phải trở nên đơn độc. Từ đó mọi người cố gắng bám lấy một niềm tin sai lệch, rằng họ cần một ai đó ngoài kia yêu thương, chấp nhận họ; rằng HỌ CẦN PHẢI GIỐNG TẤT CẢ MỌI NGƯỜI KHÁC thì mới có thể “sống” trong thế giới này. Thế rồi họ bắt đầu làm những việc để được mọi người chú ý, nể phục. Họ khoác lên mình những vỏ bọc, đeo lên mình những chiếc mặt nạ; trở nên xinh đẹp hơn, tài giỏi hơn, hòng nhận được sự tôn trọng. Họ cố gắng kiếm được thật nhiều tiền, hay trở thành một "người được xã hội nể phục" để thỏa mãn nhu cầu được yêu thương, chấp nhận.

Sự thật thì xã hội không bao giờ yêu thương hay chấp nhận “bạn”, xã hội chỉ yêu thương và chấp nhận “những vỏ bọc” mà bạn khoác lên người mà thôi. Bạn hãy thử nghĩ xem, nếu bạn là một vị giám đốc, bạn có rất nhiều người nể phục. Nhưng nếu ngày mai bạn phá sản, bạn không còn là một giám đốc nữa, bạn có còn được mọi người chú ý hay không? Họ thực sự yêu quí “bạn”, hay yêu quí cái nhãn mác “giám đốc”? Một ví dụ cụ thể hơn, bạn có một ngoại hình người mẫu, một khuôn mặt xinh đẹp, và mọi người rất yêu thích bạn, thần tượng bạn. Nhưng nếu ngày mai bạn bị tai nạn và mất đi vẻ đẹp của ngoại hình, mọi người có còn yêu thích bạn, hay cái mà họ yêu thích thực sự là hình ảnh của cơ thể, khuôn mặt bạn trong tâm trí họ? Mọi chuyện xảy ra tương tự với “cá tính”, “quá khứ”, hay bất kỳ những nhãn mác nào khác. Đừng cố làm hài lòng tất cả mọi người bằng cách đeo nhiều chiếc mặt nạ, chúng chỉ làm bạn cảm thấy sung sướng một cách tạm bợ, hoàn toàn không thể mang lại hạnh phúc vĩnh cửu.

Thực chất việc cố trở nên giống với tất cả mọi người hoàn toàn có thể giúp bạn “tồn tại” trong thế giới ngày nay. Nhưng đó có phải là những gì bạn thực sự muốn? Bạn chỉ muốn tồn tại, hay bạn muốn thực sự sống và trải nghiệm? Sự kỳ vọng từ xã hội sẽ dập tắt đi sự sống trong chính bạn mà thậm chí bạn không nhận ra điều đó. Bởi vì sống một cuộc sống "của người khác" đối với tôi chẳng khác gì việc "chết đi" cả. Nhưng phần lớn mọi người chọn cách sống đó, bởi vì họ sợ phải trở nên đơn độc, họ sợ phải đứng một mình trong xã hội này. Đó là lý do bạn thấy quá nhiều những thây ma vật vờ trong thế giới ngày nay. Tôi đã từng là một trong số đó, nhưng khi tôi nhận ra rằng "mình hoàn toàn không đơn độc", tôi đã tự giải phóng chính bản thân mình. Bởi vì sự thật là như vậy...

Nếu bạn nhìn vào trong tâm hồn mình, nếu bạn lắng nghe trong sự tĩnh lặng, bạn sẽ nhận thấy rằng, luôn có một Người Đồng Hành cùng với bạn. Cho dù bạn có ở tận cùng thế giới, cho dù đó là nơi mà không ai có thể tìm đến được, bất cứ lúc nào đi chăng nữa; khi bạn cô đơn, hãy gọi tên người Cha của tất cả mọi người con, và rồi lắng nghe tâm hồn mình. Bạn sẽ nhận thấy giọng nói ấm áp, tràn đầy yêu thương của một Đấng. Và rồi khi bạn có được trải nghiệm từ tình yêu diệu kỳ đó, bạn sẽ không còn cần bất kỳ một mối quan hệ tạm bợ nào ngoài kia nữa. Bạn hoàn toàn đủ đầy mỗi khi kết nối với nguồn năng lượng bất tận trong chính tâm hồn mình. Việc đó giải phóng bạn khỏi tất cả những ảo tưởng về sự cần thiết của một tình yêu từ bên ngoài, và đối với tôi, đó là một bước tiến vĩ đại. Vì khi thoát khỏi tất cả mọi gánh nặng của sự lệ thuộc vào những thứ hữu hạn, tôi bắt đầu thực sự “sống”; tôi bắt đầu tiến những bước tiến đầu tiên trong việc tự tạo ra thế giới cho riêng mình.

Đó là lý do bạn thấy nhiều người “làm những việc mà họ yêu thích”, họ không cần quan tâm xã hội này nghĩ gì về họ, họ chỉ đơn thuần sống với chính những giá trị thật trong mình. Nghịch lý thay, khi không còn tìm đến sự thỏa mãn khi được người khác chấp nhận, họ có được niềm vui sướng tột cùng và sự tự do vĩnh cửu. Đó là những người sáng tạo nên thế giới cho riêng họ. Nhưng bạn phải cẩn thận với tâm trí mình, nó có thể lừa bạn những cú lừa đau đớn. Bởi vì có nhiều người đang cố thỏa mãn cái tôi nhưng lại nghĩ rằng họ đang làm những việc mình yêu thích. Đó là lý do họ đánh mất đi niềm đam mê và rồi thế chỗ bằng sự nhàm chán trong công việc.

Nhiều người nghĩ rằng họ thích làm việc này, việc kia, nhưng thực chất đó chỉ là những gắn kết hữu hạn trong một thời gian nhất định. Nói cách khác, những sở thích đó là những sở thích của cái tôi giả tạo; vì chúng thích được làm những việc đó, không nhằm mục đích có được sự chấp nhận từ bên ngoài, nhưng nhằm mục đích có được sự thỏa mãn hữu hạn từ bên trong. Nghĩa là khi làm việc này, bạn cảm thấy hạnh phúc; nhưng khi không làm việc này?... Một dấu chấm hỏi lớn được đặt ra. Phần lớn mọi người hiểu nhầm thứ thấp hèn này và gọi đó là Đam Mê. Họ định nghĩa “đam mê là hạnh phúc khi làm điều mình thích”. Điều này hoàn toàn đối lập với đam mê thực sự. Bản chất của đam mê thực sự chính là “Sự Toại Nguyện Vĩnh Cửu” (Eternal Contentment), và sự toại nguyện vĩnh cửu là một trạng thái sống – trạng thái mãn nguyện (being), không phải một hành động (doing). Nói cách khác, NIỀM ĐAM MÊ THỰC SỰ THẾ CHỔ, KHI BẠN “LÀ CHÍNH MÌNH”, lúc đó, dù bạn làm việc gì đi chăng nửa, bạn tràn đầy hạnh phúc, sự hài lòng và mãn nguyện.

Đó là lý do tôi luôn đồng cảm với những kẻ cố chứng tỏ cái tôi của mình, vì tôi biết rằng đằng sau đó là một nỗi cô đơn, sự thiếu thốn tình yêu không thể diễn tả thành lời. Tôi biết rằng đằng sau mỗi con người yếu đuối ấy là một tâm hồn tự do mạnh mẽ. Chỉ có điều họ không nhận ra điều đó, họ không nhận ra rằng họ thật phi thường và diệu kỳ biết bao, rằng họ chính là chủ nhân của vũ trụ, của mọi tạo vật xung quanh. Họ quên mất chính bản thân mình và rồi đánh mất đi "quyền được sống" của chính họ. Họ đánh mất đi cái quyền làm chủ mà từ khi mới sinh ra, họ đã nắm giữ. Nhưng khi chúng ta tự giải phóng mình khỏi những ảo tưởng về sự kỳ vọng của xã hội, chúng ta lấy lại quyền năng của chính mình. Đó là quyền làm chủ cuộc đời, quyền tự tạo ra tương lai của chính chúng ta.

Nguồn: bian.vn

Rào cản

Điều hiểu được trên mặt tri thức không phải là con người của chúng ta.

Bạn hiểu nhiều về giáo lí có thể đem đến niềm vui của hiểu biết khi trao đổi, nhưng không là gì hết khi đối mặt mặt sự việc.

Bao lâu những gì bạn hiểu vẫn chưa là bạn, thì mọi điều chẳng giúp ích gì nhiều.

Tuy vậy, sự học hiểu giúp ích cho chúng ta ở tiến trình thứ hai, là quán chiếu. Nhờ học Phật, hiểu giáo lí rõ ràng, sau khi va chạm tổn thương và thất bại, ta ngồi yên quán chiếu, tức dùng những gì đã học hiểu lâu nay để làm tan vấn đề còn đang đè nặng trên tâm.

Sự học hiểu chưa thể giúp ta ngay giây phút đối mặt, nhưng có thể giúp ta thoát phiền muộn khi chuyện đã qua. Tuy muộn nhưng rất đắc lực. Vì cái khổ không phải chỉ trong giây phút đối mặt mà nó kéo dài bởi những chuỗi suy nghĩ về sau làm gia tăng nỗi khổ thêm.

Nếu ở giai đoạn này vẫn chưa qua được, tức sức quán chiếu còn sơ sài, và sự hiểu biết của ta vẫn còn nằm trên mặt của sự nghe mà thôi. Bạn chưa để thời giờ nhìn lại kỹ những gì đang còn dao động mạnh.

Chỉ nghe vẫn giúp ích ở mặt, nó huân (thấm) vào tâm bạn những điều tốt, nó phải ngấm dần cho đến lúc mảnh đất khô cằn dần xốp mềm. Sự chịu để mọi điều thấm dần cũng do chính bạn mà thôi, bởi khi nghe xong vẫn chưa chịu cho điều đó ngấm vào tâm.

Khi giao tiếp, chúng ta thường nghe nói, người đó cứng ngắt, khó nhận được ý kiến ai. Tu tập là làm tâm mềm ra, nó có thể chịu được nhiều thứ tác động trên tâm mà không gây thương tổn cho chính chủ nhân của tâm.

Chúng ta chưa là hư không được, nhưng cũng không nên là bức tường quá rắn chắc để mọi thứ chạm đến phải dội lại. Chúng ta từng bị dội bởi một nét mặt lãnh đạm, giọng nói lạnh lùng khi ta cần hỏi thăm một vấn đề nào đó. Từng là nạn nhân, nhưng hàng ngày chúng ta vẫn không vượt qua được chính mình, không xóa được sự lạnh nhạt đối với những gì không thân tình, đã vô tình tạo ra một bức tường nơi mình, để mình và người đều là nạn nhân của nhau. Người ta có thể làm được nhiều việc, nhưng trong tâm vẫn chưa sửa được một số cá tính nào đó, nó là rào cản khiến bạn làm việc rất nhiều nhưng chính tự thân chưa được an ổn.

Nhìn và hiểu mọi diễn biến trong chính tâm mình, là điều cần thiết, nếu không, mình vẫn tưởng mọi chuyện qua được. Nhìn người không để phê phán nhưng qua những cố tật chưa sửa được của người để hiểu chính mình cũng chưa sửa được bao nhiêu.

Rào cản giữa mình và người là chính tâm khô cằn. Để làm tâm tươi nhuận, cảm thông, tâm cần có sự thức tỉnh. Điều đó bạn vẫn biết lâu nay do bạn, nhưng sự biết do chính mình là tác nhân gây nên mọi chuyện, vẫn còn nằm bên bề mặt.

Nhận ra được điều này, mới là lúc mọi việc chạm đến bề sâu.

Trích Từ Bước Chân Xa

Huyền học: Cơ sở của Mê tín, Giới cấm thủ và Tà kiến

Huyền học không thể và không bao giờ đem đến giải thoát cho nhân loại; ngược lại, nhiều khi nó còn nô lệ hoá tâm thức con người vào nỗi sợ hãi thích thú, một sado-machosism tiềm ẩn, làm trầm trọng thêm nỗi Khổ của con người.

Khi ta tìm kiếm một chiếc kim rơi, ta chẳng thấy gì khác ngoài những phạm trù khái niệm về chiếc kim trong tâm thức đang điều khiển ta. Đó là những “điều kiện tìm kiếm”, một loại “mạch lọc” tâm thức: bằng kim loại, nhỏ như sợi tóc, dài khoảng vài phân, óng ánh …Hãy nhớ rằng, trong khi ấy, ta không thấy gì ngoại trừ ám ảnh “cây kim” và những điều chẳng thấy nhiều hơn vô vàn lần cái điều đang tìm là cây kim!

Khái quát hóa ví dụ trên, sở dĩ loài người dựa vào huyền học như bói toán, tử vi, tướng số, phong thuỷ, địa lý, cảm xạ …, là vì nỗi sợ hãi ẩn náu trong tận cùng tâm thức (alaya) từ thuở hồng hoang, sợ hãi những hiện tượng thiên nhiên. Nỗi sợ ấy hoà trộn với tâm thức mong cầu, tầm cầu bị thúc đẩy do căn Tham (sự bám luyến, sợ mất mát) và căn Si (si mê, mông muội), trước lẽ vô thường được mất, thịnh suy, chết chóc….của mọi hiện tượng và của cuộc sống. Nói chung là nỗi sợ hãi và nỗi khổ niềm đau không giải thoát ra được.

Các môn huyền ra đời trong bối cảnh tối tăm của vô minh, khổ đau và hãi sợ ấy, để cho phàm nhân vô minh một cái phao cứu sinh trên mặt biển đời trong đêm đen đầy giông bão. Các bộ môn này đều cho phàm nhân rất nhiều “điều kiện” để “in vết” vào tâm thức, những “điều kiện in vết” ấy, ví như tại văn minh Tàu, là năm sinh âm lịch, nào là Nhâm Quí, nào là Mậu Canh… hay tại Tây phương, nào là những những lời tiên tri Nostradamus hay bói bài Taro…, hoặc 12 cung tháng Nhân Mã, Kim Ngưu…, để tiên đoán về những quá khứ, tương lai, số phận, bệnh tật, tai hoạ…, mà những tượng ấy lấy trong truyền thuyết cổ đại Hy Lạp.

Đó là những “mạch lọc” của huyền học được cài đặt vào tâm thức phàm nhân, đã “in vết” vào Tưởng Uẩn, sau đó vào Hành uẩn để sai sử hành vi con người. Tâm lý phàm nhân lúc ấy, tự động lưu ý những sự kiện xảy ra trong cuộc sống, mà những sự kiện ấy tương tự với những điều được “in vết” từ trước; hoặc họ được làm những gì hay “kiêng” những gì, cũng theo điều kiện huyền học ấy.

Và vì thế, toàn bộ cảnh trần đi qua 6 giác quan sẽ được Hành Uẩn và Tưởng uẩn chắt lọc theo những “điều kiện cho trước” này, mà thấy rằng Có hay Không. Nếu Có, thì càng kiên cố thêm niềm Tin vào huyền học. Nếu Không, thì cho rằng nhờ Phước đức ông bà để lại, hoặc thần linh phù hộ mà tránh được!

Tất cả chỉ là sự tất yếu của thế giới hiện tượng do tính chất đối đãi nhị biên phân biệt: Có và Không mà thôi. Đây là một hệ quả của thuật toán nhị phân 0 và 1.

Với thế giới nhị-biên Đúng Sai, Có Không, cũng như thuật tóan nhị phân 0 và 1, xác xuất lý thuyết phân bổ cho mỗi bên là 50% và 50%. Huyền học tập trung vào hệ thống tâm lý của Dục giới, nó “khai thác, vuốt ve, an ủi, động viên, giải thích và cả tấn công” vào trạng thái tâm lý sinh khởi từ các căn Tham-Sân-Si, những nỗi vọng tưởng, mong cầu, sợ hãi, tuyệt vọng…. Huyền học cung ứng cho phàm nhân một hy vọng hão huyền giữa 50% những vọng tưởng tốt đẹp và 50% những sợ hãi, tuyệt vọng, bất hạnh!. Vì thế, huyền học vẫn ngự trị dai dẵng trên 50% nỗi thất vọng không xảy ra ; và an ủi, định hướng cho vọng tưởng khác khi 50% thất vọng xảy đến!. Với “mạch lọc” tâm thức, phàm nhân vô minh sẽ thấy nhiều khi huyền học đúng đến…60% hay thậm chí …đúng hơn nữa!. Tất cả đều là vọng tưởng từ vô minh nguyên thuỷ của chúng sinh trong cõi Dục này.

Ngoài ra, còn sự tò mò của con người, một bản chất sinh học nữa. Các sinh vật “thăm dò” các đối tượng chưa bao giờ xuất hiện trong hệ dữ liệu tâm trí nó, để nó liệt vào “chiến đấu” (fight) hay “bỏ chạy” (flight) trong kinh nghiệm của chúng. Con người cũng thế, họ tò mò muốn biết tương lai gần xa có gì không? Và một sự vui vẻ tràn đến, khi Tà sư phán rằng, hạnh phúc trong tầm tay. Làm gì có hạnh phúc tự nhiên mà đến?

Phàm nhân vô minh không hiểu rằng họ đã và đang nhận được tất cả những gì xứng đáng với cuộc sống của chính họ. Họ không biết rằng, do vô minh mà họ đã làm ra số phận của họ.

Huyền học chỉ là những hiện tượng do con người chế định ra, chúng được phóng chiếu, bành trướng từ “tự ngã” ra thế giới hiện tượng, tập thành các “nghề” mưu sinh:

Huyền học thuộc con người qua chỉ tay, tướng số, bói bài ; các loại gieo quẻ, cầu xăm; hoặc là đồng bóng, cô cậu.… mà tâm thần học gọi là bệnh Đa nhân cách.

Huyền học thuộc Không gian: các khoa Chiêm tinh, Phong thủy, Địa lý, Bát trạch, Cảm xạ …

Huyền học thuộc Thời gian: các khoa Tử vi, Tử bình, xem ngày giờ tháng năm…hung kiết …

Huyền học không thể và không bao giờ đem đến giải thoát cho nhân loại; ngược lại, nhiều khi nó còn nô lệ hoá tâm thức con người vào nỗi sợ hãi thích thú, một sado-machosism tiềm ẩn, làm trầm trọng thêm nỗi Khổ của con người. Những tập tục mê tín hoặc/và những lễ hiến tế dã man trong lịch sử nhân lọai, những mê tín, đồng bóng,…đã biến thái thành những cuộc lễ tế cầu kỳ tốn kém rất vô ích ngay trong hiện tại, vẫn diễn ra hàng ngày trước mắt ta, là một minh chứng cho sự mông muội ẩn mặt dưới đáy sâu Vô Thức.
Hãy nhớ rằng, các nhà huyền học chỉ làm tiền trên sự vô minh của nhân loại mà thôi, vì nếu linh ứng, thì họ hoặc con hay cháu chắt họ, đã thành ….vua hay tổng thống rồi!

Huyền học nở rộ như nấm sau mưa và lên ngôi trong thời đại mà Đức Phật ví rằng “ác thế ngũ trược”. Phật giáo ví rằng, thời ác thế là thời đại mà thế giới không còn Thiện Pháp nữa, thì xuất hiện Năm vấn đề ô nhiễm, vẩn đục (ngũ trược):

Thời đại vẩn đục (kiếp trược), là thời đại suy đồi, mục ruỗng, trong thời đại này, mọi thứ suy đồi, tai nạn, chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật, …nói chung là không còn an ninh thân thể nữa. Ô trược phát sinh tràn ngập thế gian. Cũng có thể hiểu là thời kỳ quá ngắn ngũi, đầy dẫy vô thường, không an bình…

Tâm lý vẩn đục (phiền não trược), vì sự suy đồi của thời đại huân tập vào chúng sinh, nên mọi phiền não vô minh hiện hành, những hiện tượng tiêu cực xã hội tràn ngập, hận thù, tham lam, hám danh, kiêu mạn, luân thường đạo lý đảo lộn và mục ruỗng. Nói chung, về mặt tâm lý, tinh thần và tình cảm bị phiền não khổ đau, không hạnh phúc an lạc.

Kiến thức vẩn đục (kiến trược), vì thế, nên những nhận thức của chúng sinh là khối nhận thức sai lầm, điên đảo, mục ruỗng, mà giáo lý gọi là Tà kiến phát sinh. Chúng sinh chống trái nhau, đi đến chiến tranh, chia rẽ, nghi kỵ, hận thù …. Tà kiến chỉ cho Thân kiến (không còn giá trị đạo đức cá nhân), biên kiến (ngoài ta là kẻ thù, địch thủ), tà kiến (chủ thuyết điên cuồng, mê tín dị đoan, luật pháp điên đảo …), kiến thủ (phong tục tập quán đồi bại, mục ruỗng, … ) và giới cấm thủ (mê tín, cuồng tín, …). Nói chung, là nhận thức (kiến) sai lệch.

Con người vẩn đục (chúng sinh trược ), do phiền não trược và kiến trược nên chúng sinh trở nên mâu thuẫn nhau, chúng sinh trở thành chó sói của nhau, gia đình và xã hội rối rắm, con người bất hiếu, bất trung tín, bất nghĩa, vô lễ, vô giáo dục …. Ccon người trở nên cô đơn và đầy lòng sân hận, con người hành động mù quáng, vô minh, tạo ác nghiệp. Con người sống theo bản năng sinh vật, theo các Bất thiện căn, lòng người ly tán.

Mạng sống vẩn đục (mạng trược), do những thứ trên, đời sống chúng sinh tất nhiên vô nghĩa, do con người bị “vong thân”, không tự tại với chính mình, chạy đua theo đời sống, khổ đau vì đời sống, lo âu trong cuộc sống, cho nên có cuộc sống mục ruỗng, không cần biết ngày mai, không ích lợi gì cho chính bản thân cũng như cộng đồng. Con người chìm đắm trong sinh tử luân hồi.

Các vẩn đục tâm thức, “Ô trược”, trên huân tập lẫn nhau, sinh khởi lẫn nhau. Chúng sinh sinh ra trong thời đại của năm thứ này cho nên gọi là ngũ trược. Chúng tạo thành năm loại “mạch lọc” bất thiện cho tâm thức mặc tình phóng chiếu, bành trướng:

 “Như vậy, Xá-lợi-phất, trong thời kiếp trược rối loạn, chúng sinh nhơ bẩn sâu dầy (cấu trọng), bủn xỉn tham lam (xan tham), đố kỵ ganh ghét ( tật đố), thành tựu các bất thiện căn, ….” (kinh Pháp Hoa)

Khoa học ngày nay không màng đến các huyền học nữa, họ cho rằng đó là những màn trình diễn của “tự kỷ ám thị”, “tự thôi miên”, “đa nhân cách”, hoặc hạ đẳng hơn, là lừa đảo, là lang băm…

Bệnh đa nhân cách, loại bệnh mà các Tà sư phán rằng, “có vong nhập”, ngày nay không còn là nỗi khó hiểu của ngành Tâm Thần học.

“Đa Nhân Cách, nói đúng hơn là Hội chứng rối loạn đa nhân cách, Multi Personality Disorder – MPD, căn bệnh được Pierre Janet, một bác sĩ người Pháp, mô tả lần đầu ở th kỷ 19. Theo Janet, một người được coi là bị MPD nếu có 4 triệu chứng:

1. Có 2 hoặc nhiều hơn trạng thái của các nhân cách thay nhau chi phối con người.

2. Các nhân cách phải hoàn toàn riêng biệt, tương đối ổn định về nhận thức, quan hệ gia đình, xã hội, khả năng miêu tả thế giới xung quanh.

3. Khi bị một nhân cách này chi phối, người bệnh có khả năng quên các thông tin quan trọng liên quan đến các nhân cách tiềm ẩn khác, đến mức không thể xem đó là chứng quên thông thường.

4. Các rối loạn đó không phải do ảnh hưởng của thuốc hay hóa chất.

Các nhà khoa học cho rằng, con người ngay từ khi sinh ra đã mang trong mình nhiều “mầm nhân cách” khác nhau, giống như mang nhiều hạt giống. Hạt giống nào phù hợp với cơ thể, điều kiện sống và giáo dục thì sẽ phát triển trở thành nhân cách của con người. Khi ấy, họ “bỏ quên” các nhân cách khác kém hoặc không phát triển.

Tuy có quá trình “chọn lọc tự nhiên” như vậy nhưng những mầm nhân cách kia không bị mất đi hoàn toàn mà nấp ở đâu đó trong tiềm thức. Dưới một tác nhân nào đó, các nhân cách còn lại kia trỗi dậy, kiểm soát và đưa người ta vào chứng MPD.

Về bản chất, trong mỗi con người chỉ có một nhân cách phát triển. Nhân cách này được bồi đắp, rèn luyện nên trở nên bền vững, mạnh mẽ và riêng biệt. Những mầm nhân cách khác thường yếu đuối, èo uột nên nếu bị rối loạn, chỉ đủ sức chi phối người bệnh trong một thời gian ngắn. Ngoài những điều kiện trên, đều là bệnh nhân tâm thần.

Tuy nguyên nhân gây bệnh, cơ chế bệnh sinh mới chỉ là những giả thuyết nhưng các nhà khoa học cũng đã chứng minh được rằng, nếu có một lối sống lành mạnh, có một nhân cách mạnh mẽ, “cá tính”, biết tiếp thu thông tin một cách thông minh và tỉnh táo thì bạn có thể tự bảo vệ được mình trước chứng rối loạn đa nhân cách.

Thật sự là rõ ràng khi ta tiếp cận những điều trên đây với khái niệm “chủng tử” trong Duy Thức hoặc “tâm hộ kiếp bhavanga” trong Abhidamma. Thật là vô cùng xúc động trước trí tuệ của Đấng Bổn Sư. Tại điểm này, một lần nữa, Khoa học đã gặp Phật giáo!

Ta nên nhớ rằng, một khi tâm thức đã bị “điều kiện hoá”, thì tâm thức tự động hành hoạt theo những “điều-kiện-tiên-định”, và con người chỉ tồn tại một cách nô lệ cho tâm-thức-đã-bị-điều-kiện-hoá. Ta không làm chủ thân-tâm này một chút nào hết.

Vì thế, khi khổ đau, họ lại tìm đến huyền học, bói toán. Khi hãi sợ, họ cũng tìm đến Tà sư giải cho. Đứng trước hiện tượng MPD, họ cũng đến Tà sư nhờ trục đi bớt “linh hồn”, đứng trước người bệnh tâm thần, Tà sư phán “vong nhập”!. Và như thế, huyền học của các Tà sư vẫn sống dai dẳng với đại đa số nhân loại khổ đau, vô minh và hãi sợ, từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim!

Và sau hàng ngàn năm, một vài “kiêng kỵ” (giới cấm thủ) đã hoà lẫn vào chuẩn mực thế gian, làm thành những tập tục, những phong tục mà ai cũng phải theo. Huyền học mê tín không bao giờ diệt tận, khi và chỉ khi nhân loại chấm dứt khổ đau và sợ hãi, tuệ giác minh trí sáng suốt được khai mở.

Huyền học quả là một ngành kinh doanh có tiềm năng!!!

Mục đích cuộc đời

Có một chàng thanh niên mang trong lòng rất nhiều dự định, đặt cho mình rất nhiều mục tiêu mà theo anh là cần phải thực hiện. Anh lập quyết tâm thật cao để thực hiện những mục tiêu đó. Tuy nhiên, dù cố gắng rất nhiều nhưng anh chẳng hoàn thành được mấy việc. Dần dần, anh cảm thấy mệt mỏi và uể oải.

Hôm nọ, do yêu cầu của công việc, anh thanh niên lên đường giữa buổi trưa trời nắng chang chang. Chỉ đi một lúc anh đã mệt nhoài, chân chẳng muốn bước. Thấy từ xa có một cây cổ thụ tán rộng, cành lá sum suê anh mừng lắm, cố lê chân tới gốc cây rồi ngồi nghỉ.

Đang nhăn nhó quệt những giọt mồ hôi chảy đầy trên mặt, anh thấy một nhà sư khất thực tiến tới.

Nhà sư cũng dừng lại bên gốc cây, ngồi xuống nghỉ ngơi. Trên mặt nhà sư mồ hôi cũng chảy ròng ròng, nhưng không hề thấy ông nhăn nhó, cũng chẳng thấy ông ta đưa tay lên quệt mồ hôi.

Quan sát nhà sư, người thanh niên chỉ thấy sắc mặt ông yên bình, thanh thản đến lạ, hình như những nóng bức ghê người kia không hề làm ông khó chịu chút nào.

Thấy nhà sư có vẻ thoát tục lạ thường, anh thanh niên kính trọng lắm, mở lời:

- Thưa sư, con trông sư thật lạ, dường như sư đã đắc đạo, giải thoát được khỏi những đau khổ bình thường của thế gian vậy.

Nhà sư nhìn chàng trai nói:

- Không phải sư đã đắc đạo, mà sư đã bỏ được đạo.

- Bỏ đạo? - Người thanh niên ngạc nhiên.

- Đúng vậy! Một con thuyền chở thí chủ qua dòng sông lớn, qua sông rồi, thí chủ nên bỏ con thuyền mà đi tiếp hay nên vác con thuyền theo mình để tỏ lòng biết ơn?

- Dạ, tất nhiên con phải bỏ thuyền.

- Đạo cũng giống như con thuyền kia vậy. Là công cụ đưa ta đi tìm chân lý. Thấy được chân lý rồi thì phải bỏ hết công cụ đi.

Người thanh niên thấy lời nhà sư có vẻ như không đúng, tuy nhiên anh chưa biết phản bác thế nào.

Nhìn vẻ mặt của người thanh niên, nhà sư hiểu ý, ông nói:

- Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã nói: “Ta không cần mọi người tán dương ta, mà chỉ muốn mọi người thực hành giáo pháp của ta”. Lòng từ bi của đức Phật bao la, Ngài đâu cần chúng sinh ghi nhớ công ơn của Ngài, mà chỉ mong chúng sinh thực hành giáo pháp tự vượt qua cái khổ của đời người. Giáo pháp của nhà Phật vốn đều quy về một chữ không. Không ác, không thiện.

Anh thanh niên tròn mắt rồi anh lẩm bẩm từng lời mà nhà sư vừa nói:

- Không ác, không thiện !

Thấy thái độ của chàng thanh niên như vậy, nhà sư hỏi:

- Theo thí chủ, ác là gì ?

Bị hỏi bất ngờ, anh thanh niên hơi lúng túng, ấp úng nói:

- Theo con... theo con... ác là làm những việc trái với đạo lý như đánh, giết người … ừm... ừm... nói chung theo con ác là làm hại người khác để lợi mình, hoặc để cho mình được vui thích.

- Ác không chỉ có vậy, nhưng thí chủ hiểu như vậy cũng không sai, vậy theo thí chủ, nguyên nhân tội ác từ đâu ra?

- Dạ con không biết ạ!

- Ác do tham, sân, si mà ra. Tất cả vốn tự tâm mình cả, nếu tâm không thì không có ác! Bây giờ thí chủ có thể cho sư biết, thiện là gì không?

- Theo con, thiện là lòng tốt của con người, làm thiện là làm việc tốt cho người khác, đôi khi có thể vì người khác mà quên đi bản thân mình.

- Thiện cũng không chỉ là vậy, tuy nhiên nghĩ như vậy cũng đúng. Theo thí chủ thiện từ đâu sinh ra?

- Như giải thích của sư khi nãy, thì thiện cũng do tâm sinh chăng?

- Đúng vậy, thiện cũng từ tâm ra. Chúng ta nhìn vào ác để thấy thiện, nhìn vào thiện để thấy ác. Tự nhiên vốn không có ác, không có thiện. Ma và Phật cũng vậy. Tất cả đều do tâm động mà sinh. Để dễ hiểu hơn, ta hỏi thí chủ một câu: “Khi cầm một vật lên, dù vật đó to hay nhỏ, thí chủ sẽ nặng người thêm hay nhẹ đi ?”

- Dù vật đó như thế nào thì người con cũng sẽ nặng thêm.

- Tâm con người cũng vậy, càng động thêm càng tăng phiền não. Vì vậy con người không nên mang gánh nặng quàng vào mình, mà nên học cách bỏ đi mới là sáng suốt.

Nói xong nhà sư kết luận:

- Chúng sinh thường mong muốn cao xa, tự gây khổ cho mình. Đâu biết tâm tự nhiên vốn tự thanh tịnh, không lay động (ghi chú thêm: là sự biết/nhận biết đơn thuần mà không hề có sự đánh giá , phê bình...).

Giáo lý của nhà Phật phải từ từ mới hiểu, lại từng bước mà lên, không thể một sớm một chiều là thông. Sư và thí chủ đã có duyên mà cùng luận bàn câu chuyện, bây giờ cũng là lúc sư phải đi. Mong thí chủ suy ngẫm đôi điều, biết đâu sẽ được lợi ích gì chăng?

Nói rồi nhà sư từ biệt ra đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên vẫn còn đang thẫn thờ với câu hỏi lớn trong đầu: “Mục đích chân thực của đời người, rốt cuộc là tìm kiếm hay bỏ đi đây?”.

Nguồn: vienkhong.com

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

Vẻ đẹp của cuộc sống dưới ánh sáng Tứ Diệu Đế

Hãy lấy Từ Bi làm động lực cho cuộc sống, hãy dùng trí tuệ làm phương tiện thiện xảo, và ý chí vươn lên, tự vượt qua những yếu điểm của chính mình và của hoàn cảnh mà mình đã rơi vào chính là ‘dũng’.

Đôi khi ta gặp những người rất tệ hại, nhưng ngay cả những người không được tốt đó vẫn thích được khen ngợi là tốt đẹp, cao thượng, dễ thương, vv, và căm tức, công phẫn khi bị chỉ trích. Những người rất xấu vẫn thích đẹp và mong muốn mình xinh đẹp hơn, hay ít nhất là cũng được khen đẹp ở một khía cạnh nào đó. Phải chăng những người tệ hại xấu xa trong thâm tâm vẫn thích cái tốt đẹp, thích được tán thưởng, thích được chú ý đến? Có một qui luật chung, đó là ai cũng muốn được yêu thương, quí trọng và được chú ý đến. Nhưng có bao nhiêu người biết rằng người khác cũng như ta vậy, có một tự ngã và muốn được đánh giá đúng mức?

Và muốn được người yêu, hãy yêu người, muốn được người kính, hãy kính người, muốn được quan tâm, hãy quan tâm đến người khác. Nhưng cũng có những người thiển cận đến nỗi không thấy được những nguyên tắc rất căn bản này, và luôn bị thúc đẩy bởi tham - sân – si, những năng lực không lương thiện khiến họ nói năng hành động và cư xử một cách thô lỗ, tồi tệ đến mức mọi người đều muốn tránh xa. Đó chính là từng cấp thấp nhất của vô minh, sự ngu muội và thiếu hiểu biết, thiếu trí tuệ phán đoán và thiếu kỹ xảo trong những tình huống thực tế. Tất cả các hành động xuất phát từ bản ngã, dù trực tiếp hay gián tiếp như trên đều được gọi là vô minh duyên hành.

Ở cấp độ thô thiển nhất, vô minh là sự ngu muội không biết đâu là tốt, đâu là xấu, đâu là hữu ích, đâu là bất lợi. Những con bạc, những kẻ trộm cướp lưu manh, nhưng kẻ giết người, hay tra tấn hành hạ người, hành hạ súc vật, chim, cá, (chúng sinh hữu tình), những kẻ tà gian, dâm dật vô độ, vv, đều bị khống chế, dẫn dắt bởi cấp độ thô thiển này của vô minh. Vì nghĩ rằng nó có thể tìm được lạc thú, hay thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn một cách nhanh chóng bằng những hành động bất thiện, trái pháp luật, đáng bị chỉ trích công kích bởi đại chúng và những người có trí. Những kẻ ngu muội này lầm tưởng rằng nó có thể thoát khỏi hậu quả xấu của những hành động tồi tệ của chúng nên những chúng sinh lầm lạc này cứ làm tới mà không cảm thấy sợ hãi hay hổ thẹn bởi những hành động bất chính của chúng. Trong thuật ngữ Phật học, đây gọi là vô minh làm duyên cho bất thiện hành (avijja paccayā abhuññābhisaṅkhārā).

Những hành động như thế nào thì gọi là bất thiện hành? Bất thiện hành hay những hành động bất chính cũng có những cấp độ khác nhau, từ dễ thấy, lộ liễu và trơ trẽn đến tinh vi khoé léo và xảo quyệt. Hầu hết mọi người bình thường trong xã hội đều thấy trộm cướp, giết người, đồ tể hay đàng điếm, bài bạc, ngiện ngập, chửi bới tục tĩu, hay điêu toa dối trá là xấu ác, bất thiện và đáng bị nguyền rủa, đáng bị trừng phạt trong mọi xã hội từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Nhưng vì sao chúng sinh lại ngu muội, nghĩ xấu, nói xấu và làm xấu như vậy?

Khi một con bạc tìm đến sòng bạc thường là do tham lam, muốn có tiền một cách dễ dàng nhanh chóng. Thậm chí nó nghĩ rằng đó là cách kiếm tiền dễ dàng, nhanh chóng và…công bằng nữa! Nó tin rằng nó thông minh khôn khéo và lọc lừa hơn đối thủ và sẽ vớ được một khoản tiền béo bở trong đêm. Đối thủ của nó cũng nghĩ như vậy, và hầu hết những con bạc trong sòng bạc đều có ý nghĩ tương tự. Trong sòng bạc thường chỉ một vài người thắng bạc, còn lại là thua nhưng mọi người đều không mất hy vọng.

Hope against hope, những kẻ bài bạc bị thúc đẩy, cắn xé và lao tới với tia hy vọng khi thì mãnh liệt, khi thì mong manh, rằng nó sẽ gỡ hoà hay thắng trong ván kế tiếp. Và những con bạc vẫn tham lam một cách lì lợm ngồi đó. Thứ năng lượng nuôi dưỡng nó lúc này là tham lam và giận dữ, cay cú khi nó thua, hễ hả đắc thắng khi nó được. Cho dù thua bạc hay thắng bạc thì nhưng con bạc đều bị thiêu đốt, thôi thúc bởi những tình cảm mãnh liệt mà trong tâm lý học Phật Giáo gọi là bất thiện tâm. Những bất thiện tâm này xuất phát từ vô minh, hay nói bằng ngôn ngữ bình dân, đó là sự ngu muội, sự thiếu hiểu biết và khả năng nhìn nhận, suy tư một cách đúng đắn.

Vì chúng không tin vào nhân quả thiện ác. Chúng không biết hoặc không tin rằng những hành động bất chính sẽ mang lại những hậu quả tai hại ngay trước mắt cũng như trong lâu dài. Khi tức giận người ta có thể đánh đập người hay đánh đập, gây thương tích trên cơ thể và tâm hồn kẻ mà họ căm ghét (cho bõ ghét!) Khi tham lam, người xấu có thể giết người cướp của hay lừa đảo, mưu mẹo để đạt lấy của người, hay trộm cắp tinh vi, hay gian dối lang chạ, hay bài bạc rượu chè. Cũng có khi người ta đến sòng bạc hay quán rượu chỉ để tìm quên những đau khổ khó khăn mà họ không thể đối mặt để giải quyết. Những lạc thú tạm thời do những hành động bất chính kể trên đem lại có thể làm cho kẻ lầm lạc cảm thấy thoả mãn nhất thời và hắn có thể tiếp tục làm ác, hay thúc đẩy khuyến khích kẻ khác làm ác. Những kẻ ngu muội và thiển cận này không biết rằng giết người hay đánh người thì sớm hay muộn gì cũng bị ngươì giết lại hay đánh lại. "Hại nhân nhân hại sự này tại đâu" (Nguyễn Du, Truyện Kiều).

Những kẻ trộm cướp gian dối hay lừa đảo thì có thể hưởng thụ những thứ mà chúng đã đạt được một cách bất chính chừng nào mà hành động của chúng chưa bị phát giác. Điều gì sẽ xảy ra khi chúng bị phát hiện? Bị tù đày, bị khảo tra, bị kết án, bị trả thù, bị khinh chê, bị xa lánh, bị tịch thu tài sản… Ngay cả khi chưa bị phát hiện, những kẻ lầm lạc này cũng không được sống hoàn toàn yên ổn. Chúng lo lắng và sợ hãi những hành động bất chính của chúng có thể bị phát hiện, chúng tìm mọi cách để che đậy, lấp liếm những tội đã phạm phải. Có khi để che đậy tội ác đã làm chúng phạm thêm những tội ác mới, để chứng tỏ gian dối là thật, chúng phải gian dối nhiều hơn nữa, và trong vòng luẩn quẩn này chúng cứ trôi lăn, từ sự mù quáng này đến sự mù quáng khác. Trong trường hợp này họ là những chúng sinh được gọi là đi từ bóng tối vào bóng tối.

Đến một lúc nào đó, nghĩ ác, nói ác, làm ác trở thành một thói quen gần như không thể nào sửa đổi. Những chúng sinh tội nghiệp này được gọi là incorrigibles trong Tiếng Anh, nghĩa là đã quá hư hỏng đồi bại, không thể bỏ qua hay tha thứ. Một số những chúng sinh loại này nhận lãnh án tử hình hay chung thân, khổ sai trong một xã hội có pháp luật nghiêm minh, rõ ràng. Một số khác do nghiệp quả chưa chín mùi, tạm thời thoát khỏi pháp luật thì cũng thường bị chê bai, nguyền rủa. Có chăng chỉ có những kẻ xu nịnh xấu xa tuyên dương họ khi họ còn có quyền lực và tiền bạc.

Những kẻ này khi ác nghiệp chưa chín mùi, chưa trổ quả khổ đau đôi khi còn dương dương tự đắc, vỗ ngực ca tụng xấu ác một cách trơ trẽn, tuyên bố rằng không có nhân quả nghiệp báo gì cả. Chúng có thể nói rằng đạo đức, nhân quả nghiệp báo và sự thánh thiện chỉ là những giáo lí nhảm nhí vô căn cứ, và không chứng minh được trong một thế giới nhiễu nhương đầy cám dỗ bởi vật chất và lạc thú, trong một thế giới mà sống gấp, sống vội kiểu mì ăn liền thường được quảng cáo và tán dương khắp nơi. Ở đây, những hành động không lương thiện được dẫn dắt bởi tà kiến.

Những người cờ bạc và tửu quán không phải do tham lam, nhưng để tìm quên những khổ đau thầm kín (mà họ không dám đối mặt giải quyết) cũng chỉ là một giải pháp tai hại chỉ có những kẻ thiếu suy nghĩ mới làm. Vì rằng cờ bạc tửu điếm không những không giúp người đó thoát khỏi tình cảnh đang vướng mắc, mà còn tạo thêm nhiều rắc rối khác như khánh kiệt tài sản, trở nên nghiện ngập, vướng bệnh xã hội, vv. Và như vậy những kẻ yếu đuối này càng ngày càng lún sâu vào con đường truỵ lạc và tội lỗi. Đoạn cuối của những chúng sinh tội nghiệp này thường rất bi thảm. Họ là những kẻ uống nước mặn để thoả mãn cơn khát tạm thời, càng uống càng khát thêm, và cuối cùng chết vì bị nhiễm độc. Dạng vô minh này được tâm lý học gọi là ‘hội chứng tự ti mặc cảm’- (inferior complex).

Ở mức độ trung bình, vô minh là sự không thấu hiểu nguyên nhân, gốc rễ của các hành (saṅkhārā, pháp hữu vi, hay pháp được tạo thành, pháp được cấu tạo). Phần nhiều chúng sinh nằm trong cấp độ này của vô minh. Các hành ở đây chỉ cho hai loại hành: thiện hành và ác hành.

Thiện hành là hành động, nói năng và suy nghĩ một cách thiện xảo và chín chắn đưa lại lợi ích cho mình, cho người hay cho cả hai. Bất thiện hành là những hành động, nói năng và suy tư thiếu tử tế, thiếu khôn ngoan và không sáng suốt khiến dẫn đến hại mình, hại người, hay hại cả hai. Những người này khi thì làm tốt, nói năng và cư xử khôn ngoan khiến được lợi ích và ca ngợi, nhưng khi khác lại làm xấu, nói năng và cư xử một cách thiếu khôn ngoan tử tế khiến hại mình, hại người. Tuỳ điều kiện hoàn cảnh người đó có vẻ tốt, nhưng trong một điều kiện hoàn cảnh khác lại xấu xa tồi tệ. Do đâu những người này có những hành vi hay cách cư xử bất nhất như vậy? Do họ không có khả năng nhìn nhận và suy tư một cách sáng suốt và sâu sắc. Họ bị ảnh hưởng bởi những người quanh họ, bởi sự tuyên truyền quảng cáo, và bởi vẻ xuất hiện bên ngoài, không thấy được thực chất bên trong.

Trong môi trường tốt và được giáo dục chu đáo, những người này trở thành tốt, đôi khi khả kính và đáng yêu. Nhưng trong môi trường xấu hay trong hoàn cảnh khó khăn, họ sẵn sàng (đôi khi do dự) làm ác, miễn sao tạm thời thoát khỏi tình trạng túng quẫn; họ không nghĩ đến hậu quả xấu có thể đối mặt trong tương lai. Do khi thiện, khi ác, khi xấu khi tốt bất nhất như vậy nên đời sống của những người này là sự đắp đổi giữa hạnh phúc và khổ đau. Trong ngôn ngữ bình dân gọi là "khi lên voi, khi xuống chó".

Những người này ít nhiều có hiểu biết đâu là tốt, đâu là xấu, những gì đem lại lợi ích và những gì đem lại bất lợi, nhưng họ thường chỉ thấy biết trên bề mặt của vấn đề/hiện tượng mà không thấy bản chất của vấn đề/hiện tượng. Họ là nhừng kẻ "theo dòng", hay gió cuốn chiều nào thì lay theo chiều đó, trôi nổi dật dờ theo trào lưu và xu hướng chung của xã hội. Trong số họ, nếu có đủ thông minh, tài trí và gặp thời thì có thể trở thành những "ngôi sao" hay những nhà lãnh đạo, có khi giàu có và nổi tiếng, thậm chí còn có thể trở thành thần tượng cho đám đông. Nhưng khi được đám đông hoan hô và tán thưởng không bõ cho khi bị nguyền rủa và chà đạp cũng bởi đám đông đó, hay bởi một đám đông khác bất đồng quan điểm, khác niềm tin, đối nghịch.

Trong tâm lý và triết học Phật Giáo, nguyên nhân hay động lực được chia thành hai nhóm.

1. Thiện căn (kusalamūla) bao gồm vô tham (không keo kiệt bủn xỉn, không ham muốn nhiều, tri túc hay biết đủ); vô sân (từ hoà và bi mẫn); và vô si (hiểu biết và sáng suốt). Những suy nghĩ, lời nói và hành động bắt nguồn từ một trong ba thiện căn này được gọi là thiện hành (puññābhisankhārā). Thiện hành cũng thường được miêu tả như là bố thí, cúng dường, biết ơn, cung kính, hoà ái, có tấm lòng rộng rãi và bao dung, hay làm từ thiện, ham học hỏi và ưa gần gũi các bậc thiện tri thức, hoan hỷ chỉ bày và giúp đỡ, khuyến khích người cùng làm thiện, trì giữ nămgiới và nói chung là hành Thập Thiện, Thiền định, vv.

2) Bất thiện căn (akusalamūla) bao gồm tham lam, sân hận, và si mê. Những hành vi xuất phát từ những bất thiện căn này được gọi là bất thiện hành (abhuññābhisankhārā). Những bất thiện hành này đã được đề cập đến ở những trang trước.

Hầu hết những hành động xấu ác, phạm pháp và không thiện xảo đều bắt nguồn từ cái tâm bất chính bị vô minh hay si mê dẫn dắt. Nhưng cũng có những hành động tưởng như tốt, có vẻ như từ thiện và khôn khéo nhưng lại chỉ xuất phát từ động lực vụ lợi, nghĩa là tham. Đôi khi người ta làm phước chỉ vì tham lam hay ngã mạn như muốn được khen ngợi là người tốt, muốn được chú ý đến, muốn được quả báo tốt đẹp cho đời này hay đời sau, muốn được sinh lên cõi trời, vv. Đôi khi người ta hô hào cổ vũ người khác làm điều mà họ cho là tốt như hy sinh cho tổ quốc đồng bào, yêu nước hơn yêu thân, vv, nhưng bản thân người hô hào lại không làm như vậy. Hoặc những điều mà họ cho là tốt đẹp thực ra chỉ là kiến chấp có gốc rễ trong si mê và sân hận dẫn dắt người tới kỳ thị, phân biệt và tàn nhẫn. Những nghiệp tạo tác như vậy được gọi là ‘nghiệp lốm đốm’- nghĩa là những hành động có động lực không rõ ràng minh bạch.

Có khi những động lực có vẻ như tốt nhưng lại cho kết quả không tốt đẹp gì. Người ta nói về một xã hội "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", một xã hội không có tư hữu và cạnh tranh nhưng kết quả lại khá bi thảm vì chúng sinh phần lớn lại khá tham lam, lười biếng và vô trách nhiệm. (Tư hữu và cạnh tranh thường bắt nguồn từ tham lam và ngã mạn). Chúng ta đã chứng kiến nền kinh tế tập trung sụp đổ ra sao vì nó gián tiếp tạo ra nạn cửa công cửa quyền, nạn quan liêu, và bao cấp dẫn đến nạn vô trách nhiệm.

Chung qui lại tất cả những hiện tượng đó đều bắt nguồn từ một ý tưởng thiếu sáng suốt và thiếu thực tế mặc dù nhìn qua thì ý tưởng đó rất cao thượng và có vẻ logic. Đó chính là vô minh. Mọi ý tưởng đều không nằm ngoài vô minh, dù là XHCN (socialist) hay TBCN (capitalist), dù là kinh tế thị trường hay kinh tế tập trung. Một ý tưởng (vô minh) có thể đưa người ta đi xa vạn dặm (hành). Đôi khi có vẻ như thành công, hạnh phúc và thoả mãn. Nhưng rồi thời cuộc đổi thay, những lý tưởng, tiền đồ và sự nghiệp mà ta đã dày công tạo lập bỗng chốc sụp đổ như lâu đài trên cát. Người ta mất phương hướng, người ta tuyệt vọng, người ta thở dài than thân trách phận, hay trở nên bi quan yếm thế, hay cay cú, hoài nghi…

Xã hội loài người đã có những bước tiến bộ khá ngoạn mục. Từ thời đại đồ đá chuyển đến thời đại đồ đồng. Từ đời sống du mục đến đời sống canh tác định cư và đô thị hoá; từ nền kinh tế nông nghiệp đến công nghiệp và thương mại. Cùng với sự phát triển về kinh tế và vật chất, con người cũng có vẻ ngày càng văn minh và cư xử với nhau tử tế hơn chăng? Trong một giai đoạn lịch sử, xã hội loài người đã từng tồn tại chế độ nô lệ. Những người nô lệ thường bị đối xử tàn bạo như súc vật, họ không có quyền gì cả, ngay cả quyền làm người. Thật đáng tiếc, trong xã hội được gọi là văn minh và tiến bộ của chúng ta ngày nay tệ nạn này vẫn còn, có những người chồng, người cha xem vợ con như nô lệ. Trong một số hệ thống tôn giáo và thần quyền, người phụ nữ cũng bị lợi dụng và áp bức bởi những luật lệ và cách cư xử rất thiếu công bằng và phi nhân bản. Những hành động tàn bạo này bắt nguồn từ ý tưởng chủ-tớ, sang-hèn, có quyền lực và không có quyền lực, ông chủ và kẻ làm thuê, tư tưởng trọng nam khinh nữ, vv.

Mọi ý tưởng hay tư tưởng xuất phát từ vô minh, dù mới hình thành hay đã tiêm nhiễm nhiều đời (có tính truyền thống), đều có khả năng đẩy người ta tới hành động bất thiện và phi nhân bản. Mọi tư tưởng hay ý tưởng khiến người ta đối xử tồi tệ với nhau đều bắt nguồn từ vô minh. Ở cấp độ này vô minh là sự thiếu hiểu biết về những chân lý trong đời sống mà thuật ngữ Phật học gọi là Tứ Diệu Đế- bốn sự thực cao quí, và Tam Pháp Ấn- ba dấu hiệu không đổi của mọi hiện hữu. Vì vô minh người ta không thấy rằng bản chất của đời sống vốn không toại nguyện. Vì sao đời sống lại không toại nguyện? Phải chăng Đạo Phật dạy người ta cái nhìn yếm thế bi quan trước cuộc đời?

Chúng ta đều thấy rằng có những người đủ tài trí thông minh, may mắn và đủ khả năng tạo dựng hạnh phúc, thành công trong đời họ, như vậy không phải là họ đã có được một cuộc đời toại nguyện ư? Vâng. Chúng ta hoàn toàn có thể đạt được hạnh phúc và ít nhiều những mức độ thoả mãn nào đó trong cuộc sống.

Khi nói về Sự Thật của Khổ (dukkha sacca), Đức Phật không phủ nhận hạnh phúc của thế gian, nhưng ngài hướng chúng ta đến một cái nhìn sâu xa hơn, đó là những gì đi kèm với cái mà chúng ta gọi là hạnh phúc và toại nguyện trong đời. Những đổi thay của thiên nhiên, những đổi thay của thời cuộc, những đổi thay của lòng người khiến mọi vật thể, mọi hiện tượng, mọi ý tưởng, mọi tình cảm và mọi mối quan hệ trở nên bấp bênh không bền vững. Khi những đổi thay theo chiều hướng mà ta mong muốn thì hy vọng tăng trưởng, ta nuôi hy vọng và ít nhiều cảm thấy hạnh phúc thoả mãn với đời sống. Khi những sự đổi thay không như ta mong cầu thì ta thất vọng, đau khổ và bất mãn. Nhưng thử hỏi có ai có thể ra lệnh cho thời tiết đừng đổi thay? Có ai không già và không chết? Có ai luôn luôn dịu dàng, lịch lãm, phóng khoáng và hào hiệp như khi đang yêu? Đổi thay chính là qui luật duy nhất không thay đổi, nhưng vì thủ chấp, bám víu và ngu muội chúng ta làm như mọi vật phải theo ý ta, và chúng ta đau khổ vì sự ngốc nghếch này không ít.

Tất cả mọi người đã được sinh ra đều bình đẳng trước đau khổ. Đau khổ là hệ quả của bám níu và thủ chấp vốn không chịu chấp nhận sự đổi thay tất yếu. Khi còn trẻ tuổi ta mong rằng lớn lên ta sẽ như thế này hay như thế kia. Dù rõ rệt hay tiếm ẩn, mỗi người trẻ tuổi đều tự xây một hình mẫu nào đó trong đầu và cố gắng để đạt được, hay gần hơn với thần tượng. Đối diện với thực tế không như ý, nhiều thanh thiếu niên đã bất mãn, mất phương hướng và niềm tin, thậm chí chọn biện pháp tự tử để kết thúc một cuộc đời vô nghĩa. Sự thất vọng và bất mãn có nguồn gốc từ việc bám níu, thủ giữ vào những giá trị, chuẩn mực định sẵn trong đầu những ai thiếu thực tế. Nếu họ đừng xây những lâu đài trên cát, hay ít nhất cũng biết rằng mộng tưởng chỉ là những trò chơi lãng mạn không đi tới đâu, và nếu họ biết quay trở về với những gì chỉ là bình thường của cuộc sống,.. thì có lẽ nhiều bi kịch trong cuộc đời đã không xảy ra.

Đau khổ vì phản ứng một cách thiếu sáng suốt trước những đổi thay bất ngờ có thể gây ra một chuỗi sự kiện đau đầu không kiểm soát được. Chẳng hạn bạn đang lái xe vào giờ cao điểm, nạn kẹt đường đang là chuyện thường ngày rên lộ trình mà bạn phải đi qua. Có ai đó làm một cú rẽ bất ngờ ngay trước mũi xe bạn, bạn chỉ kịp phanh xe vừa đủ tránh tai nạn - trong đầu bạn hình thành những ý nghĩ bực tức và giận dữ. Không kiềm chế được bạn bóp còi ing ỏi, hay thậm chí chửi rủa kẻ đó. Những chiếc xe phía sau cũng mất kiên nhẫn và bóp còi hay tìm cách nhích lên bất chấp luật lệ. Nếu tai nạn xảy ra, và các tài xế vẫn còn đủ mạnh để xông vào nhau hơn thua, có lẽ một cuộc ẩu đả đã xảy ra mà hậu quả còn tai hại hơn chỉ là một vụ tai nạn. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trong vô số tình huống bi thảm mà những phản ứng tiêu cực có thể đem lại. Một trong chúng là những cuộc vận động quân sự và những cuộc chiến tranh được mệnh danh là ‘chống khủng bố’ mà chính phủ Mỹ đã khởi xướng nhằm trả đũa cho cuộc khủng bố ngày 11 tháng chín (11 September).

Đau khổ vì những sai lầm đã qua, đau khổ vì những hậu quả tai hại trong hiện tại, đau khổ vì không biết điều gì sẽ đến ngày mai. Và chung qui lại, có bốn điều mà mọi người đều gặp trong cuộc sống, cho dù là ông vua, là hoàng tử, là tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng cho đến kẻ đấu đường xó chợ, kẻ ăn mày vất vưởng không nhà cửa thân thích, tất cả đều bình đẳng trước sinh, già, bệnh, chết. Bạn có thể nói: Sinh, già, bệnh, chết là lẽ tự nhiên, hà cớ gì phải bận tâm đến chúng?

Có ai trong chúng ta khi sinh ra không cất tiếng khóc vì bỗng dưng phải tiếp xúc với một môi trường hoàn toàn xa lạ? Đây chỉ mới là điểm khởi đầu cho một đời sống bấp bênh mà không phải lúc nào chúng ta cũng có thể làm chủ tình huống. Ai cũng muốn mình luôn xinh đẹp, khoẻ mạnh, vui tươi và hấp dẫn, nhưng những ước muốn này phần lớn là không được toại nguyện. Có ai trong chúng ta không phải già và chết không? Cho dù chẳng ai muốn già cả, tuổi già vẫn cứ đến, bệnh tật vẫn cứ đến không thèm hỏi ý kiến của chúng ta. Và những gì mình muốn mà không được, không muốn nhưng vẫn phải chấp nhận đều được cho là khổ.

Trong cuộc đời, chúng ta phải gặp gỡ và chung sống với những người mà ta không ưa, không thương, không yêu mến, điều này thật không dễ chịu một chút nào; trong khi đó những gì ta thương yêu, trìu mến và thiết tha thì lại phải chia xa, cách trở. Dù không rơi nước mắt thì tim ta cũng đã bao phen nhói đau vì phải rời xa người/vật/ hay nơi chốn mà ta đã từng yêu mến- đây gọi là khổ của sự chia ly. Có những cuộc chia ly chỉ là tạm thời, và dù khổ sở, người ta vẫn nuôi hy vọng gặp lại người/ vật/nơi chốn mình thương yêu, nhưng cũng có những cuộc chia ly vĩnh viễn mà nỗi đau là gần như không thể nào hàn gắn.

Lại có nhưng nỗi đau do thay lòng đổi dạ. Người ta yêu mến không luôn luôn dễ thương, người đó cũng có những cá tính, những đỏng đảnh đồng bóng thất thường. Do đó từ yêu thành ghét, từ thương thành giận, từ bạn thành thù, và ngược lại. Không có gì đứng yên, không có gì là mãi mãi, nhưng vì thủ chấp bám níu vào những ý tưởng ngốc nghếch của mình, ta không đối diện người, vật và cảnh như bản chất đổi thay vốn có trong đó, nên ta phải khổ khi nhận ra sự đổi thay. Những khổ thương, khổ sầu, khổ luyến ái biệt ly, khổ tương tư mòn mỏi, khổ day dứt bi ai, mỗi mỗi những nỗi khổ chồng lên nhau thành một đống khổ!

Đời người chỉ vẻn vẹn trong ngoài một trăm năm. Trong suốt quảng thời gian đó chúng ta đã trải qua bao thăng trầm, bao sự kiên mà phần nhiều là bất như ý muốn. Chúng ta hy vọng rồi thất vọng, hạnh phúc và khổ đau, thành công và thất bại, được khen ngợi, được thương yêu, nhưng cũng nhiều khi bị chê bai, chỉ trích và ghét bỏ. Những bước thăng trầm trong cuộc đời không ai không trải qua dù ít dù nhiều.

Cuộc đời cũng giống như những con sóng: lên rồi xuống, dạt vào bờ tan biến để cho những con sóng khác tràn lên, nhưng chẳng có con sóng nào cứ lên cao mãi mãi mà không có lúc tụt xuống rồi tan biến. Có những con sóng mãnh liệt vỗ vào ghành đá tung bọt trắng xoá, có những con sóng cuồng nộ lao vào bờ, ghiền nát và đập tan mọi lực cản, nhưng cũng có những con sóng chỉ hiền hoà, lăn tăn dịu dàng êm ái vỗ nhẹ vào bờ. Những cuộc đời mà ta đã gặp cũng vậy, nhưng rốt cuộc rồi ai cũng phải chết, những hy vọng rồi thất vọng, những hạnh phúc và khổ đau, những được và mất trong cuộc đời chỉ như phù du ảo hoá.

Không nhận biết được điều này, bị mê hoặc bởi ý thích và đam mê, người ta lao vào cuộc đời như lao vào cuộc chiến, cố gắng giành giật hơn thua. Trong chợ đời không ít lúc ta phải chứng kiến cảnh cá lớn nuốt cá bé, cay đắng ta thở dài mặc nhiên công nhận "chân lý thuộc về kẻ mạnh". Vì ích kỷ và ngã chấp người ta có thể chà đạp lên nhau để đạt được điều mình muốn. Khi không đạt được điều mình mong muốn hay không thoả mãn với đối tượng mà mình muốn bóc lột, người ta sân hận, tức tối và muốn đập phá, nghiền nát đối tượng. Tất cả những phản ứng này đều không ngoài "vô minh duyên hành" (avijja paccayā saṅkhārā) mà kết cuộc "là tạo dựng một đống khổ đau" (dukkhakkhandhassa samudayo hoti).

Bản chất của cuộc đời là bất toại nguyện. Cho dù chúng sinh có nhận ra điều này hay không thì chân lí này không vì vậy mà thay đổi. Đây không phải là cái nhìn bi quan yếm thế, mà là cái nhìn thực tế và giác tỉnh trước sự thật. Chúng sinh hầu hết đều không thấy biết điều này nên cứ lao vào "cuộc chơi" như những con thiêu thân lao vào bóng đèn. Chỉ khi thấy biết bản chất ảo hoá phù du của "cuộc chơi", người ta mới lùi lại để nhìn nó từ một góc độ khác, một cái nhìn sâu hơn, xuyên suốt bề mặt của hiện tượng để thấy bản chất và nguyên nhân của những hiện tượng đó. Trong thuật ngữ Phật học gọi thái độ này là nhận chân nguyên nhân của đau khổ và bất toại nguyện- hai mặt của một vấn đề góp phần vào nhận thức ra Tam pháp ấn.

Nếu như vô minh dẫn dắt chúng sinh đến hành động tạo tác thiện ác để rồi phải gặt hái, thọ nhận những khổ vui trong cuộc đời, thì ái dục (yêu-ghét, thương-giận, thích-không thích, vv) chính là sợi dây trói buộc, là vòng lưới bủa vây khiến chúng sinh cứ luẩn quẩn trong một vòng xoáy không lối ra gọi là luân hồi.

Vì vô minh, chúng sinh thường phản ứng theo bản năng, tìm cách giành lấy và cố giữ những gì ta thích, những gì khiến ta dễ chịu (lạc thọ). Chúng ta bị thu hút về xu hướng này một cách gần như vô thức, và cũng gần như vô thức, ta phản ứng một cách khó chịu với những gì mà ta không thích, ta tránh xa hay cố gắng đẩy lùi những cảm giác khó chịu (khổ thọ). Chính những phản ứng này khiến ta khổ hơn những diễn biến tự nhiên.

Gì gọi là diễn biến tự nhiên? Đổi thay gọi là diễn biến tự nhiên, nhưng ta không muốn thay đổi nên khi thay đổi đến ta tiếc nuối, bất mãn và khó chịu. Những gì ta không thích, ta muốn nó thay đổi, ít nhất là đổi vị trí, đừng phải gần nó nữa, nhưng chúng dường như khư khư bất biến khiến ta buồn bực sân hận nhiều hơn. Thực ra không có gì bất biến cả, nhưng cảm giác của chúng ta vốn chủ quan và cảm tính nên ta thấy thời gian tâm lý. Thuật ngữ Phật học gọi đây là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Tìm kiếm và ngụp lặn, đắm đuối trong dục lạc hưởng thụ gọi là dục ái. Duy trì và tiếp nối, leo thang và cải thiện những hưởng thụ và khoái lạc gọi là hữu ái. Né tránh và xua đuổi, cố gắng dập tắt hay chặn đứng những gì ta không ưu, không muốn gọi là phi hữu ái. Nền tảng của tất cả những hành động và phản ứng kể trên chính là vô minh.

Vô minh trong thuật ngữ Phật học không phải bao giờ cũng dẫn đến bất thiện hành. Ở đây vô minh chính là thấy rằng sinh tử luân hồi là vui, hay nói cách khác chúng sinh không thấy nguy hiểm trong sinh tử, họ đắm nhiễm và thoả thích trong bất cứ cảnh giới nào mà họ đã được sinh ra.

Ví dụ như trong cảnh người, một người đàn ông sẽ thấy người đàn bà là hấp dẫn nhất, và ngược lại, người đàn bà cũng thấy người đàn ông là hấp dẫn nhất; nhưng ở trong cảnh thú, ví dụ như con gà trống sẽ thấy con gà mái là hấp dẫn nhất, và ngược lại; những loài thú khác cũng thấy những nhân vật đồng loại với chúng là hấp dẫn, là xinh đẹp nhất. Người viết bỗng nhớ rằng ai đó đã nói rằng đối với con cóc đực thì con cóc cái là sinh vật dễ thương nhất trên thế gian! Có một câu chuyện hài hước kể rằng có một người đàn ông nọ yêu thương một người đàn bà chột mắt, anh ta thấy rằng tất cả các phụ nữ khác trên thế gian đều thừa một mắt! Điều này cũng làm cho vấn đề tự tử vì tình (hay vì tiền, vì danh dự, gì gì đi nữa) trở nên khá dễ hiểu. Trong mắt người trí những trò ngốc nghếch đó thật là vô minh. Vô minh này từ đâu ra?

Vì tâm chúng sinh đã được điều kiện hoá bởi những yếu tố khiến sinh ra trong một hình hài nào đó, trong một cảnh giới nào đó nên chúng không thấy được những gì không thuộc về tầm nhận thức của nó. Ví dụ như một đứa trẻ sinh ra ở nông thôn, suốt thời ấu thơ nó chỉ biết ruộng đồng, cây cỏ, chim muông, v.v, đối với nó những đồ chơi xa xỉ ở thị thành chẳng có ý nghĩa gì cả; và ngược lại, một đứa trẻ sinh ra và lớn lên giữa bốn bức tường xi măng, được vây bọc bằng những toà nhà cao từng cùa thành phố thì thường không thấy hứng thú gì giữa cảnh thiên nhiên. Một ví dụ khác là với một người không hiểu biết gì về âm nhạc, gảy đàn cho họ nghe chẳng khác gì gảy đàn tai trâu. Cách thẩm thấu về thức ăn, mùi vị, thẩm mỹ, v.v cũng như vậy.

Chúng ta lệ thuộc vào những thói quen mà chúng ta đã được nuôi dưỡng, vào cách giáo dục mà chúng ta đã thọ nhận, vào môi trường văn hoá mà ta đã lớn lên. Nhân cách và cá tính của con người được hình thành và phát triển tuỳ thuộc vào những điều kiện như gia đình (cho gene di truyền, cho môi trường tuổi thơ,..), kinh tế – xã hội, văn hoá - nếp sống, vv. Những ‘vật liệu’ thô này điều kiện hoá cái bản ngã được xây dựng do chấp thủ vào chúng, đồng hoá với kinh nghiệm mà cho là ‘của ta’, là ‘ta’. Ta cho là ngon, là đẹp, là thú vị với những gì ta đã quen thuộc, và ngược lại ta cho là dở và có phản ứng nếu những thứ đó xa lạ với ta.

Những giá trị mà chúng ta gắn lên các đối tượng chỉ là những giá trị tương đối và hữu hạn, nhưng cái tâm vô minh lại cho rằng chúng là tuyệt đối và vô hạn. Từ sự vô minh này dẫn đến sự bám víu, thủ giữ vào những giá trị đã được xác nhận (bằng cái tâm đã bị điều kiện hoá), và chối từ, đả kích những gì xa lạ hay không thuộc về ‘mode’ của nó. Bị hấp dẫn về những gì được cho là an toàn, dễ chịu, hợp ý,.. hay phản ứng lại những gì không hợp ý, là khó chịu, là không dễ thương,.. là hai mặt của tâm tham ái. Những phản ứng kiểu này có gốc rễ từ vô minh.

Vô minh khiến người ta có những phản ứng cực đoan vì tin tưởng rằng những giá trị mà mình đang nắm giữ là giá trị chuẩn mực duy nhất. Chiến tranh, giết chóc, tàn sát và nhiều hành động bất nhân khác đều có thể tìm thấy nguồn cội trong vô minh. Vô minh và thủ giữ dẫn người ta đến thái độ thiếu khoan hoà, thiếu bao dung và phi nhân bản. Vô minh khiến người ta thấy những giá trị giả danh, tạm bợ và phiến diện mà không thấy được bản chất thực sự của hiện hữu hay không thấy được mối tương quan, tương duyên của các hiện hữu. Ở cấp độ này vô minh được gọi là kiến chấp. Từ sự nhận thức hẹp hòi (do đã bị điều kiện hoá) người ta đi đến chỗ đả phá, hay cưỡng bức, triệt tiêu những gì không đồng quan điểm, không đồng giá trị trong nhận thức của họ. Những cuộc chiến tranh tôn giáo, những xung đột chính trị thường bắt nguồn từ kiến chấp.

Ở một mức độ vi tế hơn, vô minh chính là ngã chấp. Tại sao có những yêu- ghét, thương- thù, thích - không thích? Vì có Ta, có Người. Những gì thuộc về ta thì thương yêu, gần gũi, những gì thuộc về người thì xa lạ, dè bỉu. Chúng ta thường thiên vị cho những gì mà chúng ta thương yêu, và ngược lại, thành kiến với những gì mà chúng ta không ưa. Nhận thức về một cái Ta tồn tại độc lập và tách biệt, đặc biệt với những gì không phải là Ta khiến chúng ta có những yêu ghét và sợ hãi phát sinh từ những yêu ghét đó. Cái ta này muốn được thương yêu, muốn được kính trọng, muốn được quan tâm đến, và nói chung là nó muốn những gì khẳng định sự tồn tại độc nhất vô nhị của nó.

Cái ta này không muốn bị chia sẻ, và nó sẵn sàng làm bất cứ điều gì để ngăn chặn điều đó. Cái ta này tìm mọi cách xây những bức tường thành kiên cố mà vật liệu của nó là những cảm giác, những ý tưởng và tình cảm, những mối quan hệ và hoàn cảnh dẫn đến cái hình tượng ‘ta’ trong tâm mỗi người. Chúng ta bám níu vào những hình tượng ‘ảo’ này, tìm mọi cách để bảo vệ và duy trì nó. Chúng ta cảm thấy thương tổn và căm hận khi nó bị xúc phạm. Chúng ta cảm thấy sợ hãi khi nó có nguy cơ tan rã. Chúng ta sợ sự không tồn tại, sự vô nghĩa và sự lãng quên.

Tất cả những hiện tượng kể trên chính là Ái- Thủ- Hữu, nguyên nhân của Sinh trong các mắt xích duyên sinh làm thành vòng quay bất tận của hiện hữu mà chúng ta gọi là cuộc đời. Ái- Thủ- Hữu cũng chính là Hành- tạo tác hay sáng tạo, vẽ vời trên nền tảng của vô minh. Trong Tứ Diệu Đế, vòng quay bất tận này làm thành Khổ Đế- sự thực màu nhiệm về khổ và Tập Đế- sự thực màu nhiệm về nguyên nhân của khổ. Khi hành giả nhận chân ra chúng, chúng mất đi vẻ màu nhiệm và bí ẩn. Nhưng có gì là cao thượng trong đau khổ và sự hình thành đau khổ? Vâng. Chúng ta sẽ tìm ra vẻ đẹp trong khổ đau và sự màu nhiệm mà những kinh nghiệm đó có thể thức tỉnh chúng ta trong dòng đời có vẻ như mù loà vô nghĩa này. Phần hai của bài viết này sẽ đề cập đến những giá trị đó dưới tiêu đề Bi- Trí- Dũng và Vô ngã- Vị tha.

Chấm dứt phần vô minh duyên hành.

Trong một cuộc nói chuyện với Phật tử, tôi nhận thấy nhiều người đã hiểu sai tinh thần của Đạo Phật qua giáo lý Vô ngã - Vị tha và Bi – Trí- Dũng. Bài viết này nhằm giúp các Phật tử ít có cơ hội tìm hiểu kinh điển nguyên nghĩa (công truyền và tinh yếu) liên quan đến những giáo lý căn bản và pháp hành phổ thông trong Đạo Phật.

Như một câu cửa miệng, nhiều người nói Đạo Phật là đạo của vô ngã -vị tha, nôm na hiểu là quên mình giúp người. Ngược lại, Thiên chúa giáo lại chỉ trích ĐẠO PHẬT là thiếu tính xã hội và thiếu tinh thần phục vụ, chỉ lo tích đức, tăng phước hay giải thoát cho cá nhân mà thôi. Về một mặt nào đó, quả là đã có những người hay nhóm người hiểu không chính xác, thực hành sai và giảng dạy thiên lệch về tinh thần Giác ngộ và Siêu thế trong ĐẠO PHẬT khiến cho những lời phê bình trên là không hoàn toàn vô căn cứ.

Đức Phật có dạy quên mình giúp người không? Câu trả lời là khẳng định! Trong các câu chuyện Tiền thân (Jataka stories) khi đề cập đến Bố Thí ba La mật (dāna paramī), Bồ Tát đã hy sinh không chỉ tài sản (tài thí- cấp độ thứ nhất của hạnh bố thí hay xả bỏ) mà ngài còn cho đi từng phần của thân thể hay cả tính mạng của chính mình nữa để cứu giúp tha nhân khi cần thiết. Chỉ riêng hạnh Ba la mật này cũng đã thể hiện đầy đủ tinh th ần Bi – Trí - Dũng nếu nó được thực hành một cách đúng đắn. Thấy tha nhân đau khổ, thiếu thốn, hành giả chia sẻ những gì mình có để giảm thiểu nỗi khổ của người khác - đây chính là bi.

Bi khi đi với trí thì không luỵ, ngược lại, bi mà thiếu trí thì rất dễ bị luỵ, nghĩa là giúp người không hữu hiệu mà còn mang phiền toái hệ luỵ đến mình. Như người không biết bơi hay bơi chưa giỏi mà lao xuống sông cứu người chết đuối thì kết quả là cả hai cùng chết chìm. Nhưng từ sự hiểu rõ tình huống và, muốn giúp, và nỗ lực đúng cách để giúp khi cần thiết thì đó chính là bi- trí - dũng. Tại sao lại dùng từ ‘cần thiết’? Vì trong một số tình huống, sự giúp đỡ chỉ làm xấu thêm tình hình: như tiếp tay cho kẻ trộm, tham ô, móc ngoặc chẳng hạn; hay o bế người ta quá khiến kẻ đó trở nên lệ thuộc, ỷ lại, mất đi tính độc lập và tự tin vào khả năng vươn lên của mình thì cũng không nên.

Trong tăng Chi Bộ kinh (Anguttara Nikaya) có liệt kê về bốn hạng người thiết nghĩ cũng nên biết đến ở đây. Gì là bốn hạng người đã được đề cập?

Hạng người thứ nhất thì "sống như đã chết" nghĩa là không đem đến lợi ích cho ai cả, buông trôi ngay cả chính cuộc đời mình. Đây là loại người không có một định hướng nào trong cuộc sống, (maladjudgement and inadequate). Hạng người thứ hai thì chỉ lo cho lợi ích của người khác mà không mấy quan tâm đến lợi ích của chính mình. Những người kiểu này thường bị chế giễu là "ăn cơm nhà vác ngà voi" trong dân gian vì họ quá năng nổ trong các công việc xã hội mà lại quên đi bổn phận với chính mình và gia đình mình. Hạng người thứ ba thì lại chỉ chăm chăm vào lợi ích của chính mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác. Những người như vậy thì hay bị chỉ trích là ích kỷ và thủ phận. Những chỉ trích này có xác đáng hay không chúng ta sẽ thấy trong phần sau. Hạng người thứ tư thì làm việc vì lợi ích của chính mình và đem lợi ích đến cho những người khác nữa. Các vĩ nhân nhân trên thế giới là những người có nhân cách, trí tuệ và tinh thần phục vụ tuyệt vời này.

Trong bốn hạng người kể trên, Bụt nói rằng hạng người thứ tư là tuyệt vời nhất, đáng ca ngợi và khâm khục nhất. Điều này thật dễ thấy, trong bất cứ cộng đồng hay xã hội nào, hạng người năng động, sáng tạo và đầy thiện chí như vậy cũng được tán dương. Nhưng hạng người tốt kế tiếp trong thước đo của Bậc Giác ngộ lại không như chúng ta thường nghĩ một cách hời hợt. Người biết làm việc vì lợi ích của chính mình, dù không mấy bận tâm đến thiên hạ ra sao, lại được xếp vào hạng người tốt thứ hai, hơn cả người chỉ lo cho người khác mà không tự làm lợi ích cho mình. Hạng người tồi nhất là không lợi ích cho ai cả, điều này thì quá hiển nhiên không cần thiết phải giải thích.

Trong bài pháp đó, Đức Phật cũng giải thích thế nào là làm lợi ích cho mình và làm lợi ích cho người. Người sống có nguyên tắc, tự chủ và điềm tĩnh, luôn tinh tấn trong các thiện pháp dẫn đến hạnh phúc tối thượng (Niết bàn, nơi vắng bóng tham, sân, si, trạng thái đã đoạn tận mọi khổ luỵ) thì được gọi là người sống vì lợi ích của chính mình. Người tự mình thực hành những pháp thiện xảo như vậy, lại dạy bảo, nâng đỡ người khác để họ cùng sống đời sống chuẩn mực và hữu ích thì được gọi là người đem lợi ích đến cho mình và cho tha nhân. Người chỉ dạy người khác sống tốt mà tự mình không thực hành những điều đã dạy người thì gọi là người không biết sống cho lợi ích của chính mình.

Như vậy, rõ ràng chữ ‘vị tha’ ở đây là rất thực tế, nó không chỉ là thiện ý, mà còn là thực lực và phương pháp nữa. Bạn chỉ có thể cho những gì bạn có, bạn không thể cho những gì mình không có. Chỉ khi bạn vừa có thực lực, vừa có thiện ý thì mới có thể làm từ thiện. Nếu bạn không có gì cả ngoại trừ một đống khổ đau, bối rối và mất phương hướng trong cuộc đời thì bạn cũng không thể giúp được ai, dù bạn yêu thương người ta đến đâu đi nữa thì cũng chỉ là những ý tưởng hão huyền không thực tế.

Khi bạn đang buồn bực, phiền muộn, làm sao bạn có thể cho người khác hạnh phúc an vui? Bầu không khí quanh người phiền muộn lo âu hay giận dữ cũng bị ảnh hưởng cái nóng nảy bức xúc của một vài cá nhân đang có tâm trạng không vui. Và nó có thể trở thành một phản ứng dây chuyền dẫn tới một cuộc bạo động hay nổi loạn. Ngược lại, khi bạn đang vui vẻ hạnh phúc, dù bạn không có tác ý ‘cho người’ cái tâm trạng hạnh phúc đó thì những người thấy bạn cũng cảm nhận được cái tinh thần phấn chấn của bạn. Và như vậy là bạn đã ‘cho’ cái nguồn sinh lực tích cực đó rồi. Do vậy hãy làm sao cho chính bạn được hạnh phúc an vui, rồi bạn mới có thể cho người niềm hạnh phúc an vui. Nếu bạn vừa có thiện ý, vừa có khả năng và phương tiện thiện xảo nữa thì thật tuyệt vời.

Trong một bối cảnh khác Đức Phật lại khuyến khích chúng ta hãy phát tâm từ bi vô lượng đến tất cả chúng sinh: dù lớn hay bé, dù thấp hay cao, dù sang hay hèn, dù gần hay xa, dù thấy được hay không thấy được. Hãy đối xử với mọi người bằng tình của một người mẹ luôn yêu thương và hy sinh cho đứa con duy nhất của mình. Hãy duy trì tình thương cao cả và quên mình này trong mọi lúc, mọi nơi, từ lúc mở mắt chào một ngày mới cho đến khi rơi vào giức ngủ an lành. Đừng bao giờ ôm ấp những tâm niệm sân si hờn oán và mong người gặp khổ đau hoạn nạn. Đừng dối lừa người dù chỉ là một lời hứa suông. Hãy thương và ôm trọn vào lòng ngay cả những khiếm khuyết và bất toàn của mình và tha nhân. Tình thương và sự cảm thông sẽ hoá giải và chuyển biến những năng lực hay phẩm chất tiêu cực, vô dụng, hay thậm chí độc hại thành hữu ích, tích cực và tốt lành.

Thương những gì dễ thương thì thật dễ, bất cứ một người bình thường nào cũng có thể làm được; nhưng thương những gì khó thương, những trái ý nghịch lòng, những cừu thù oán hận thì không phải là dễ. Tâm chúng ta quen phân biệt xấu -tốt, được -mất, hay - dở, thích – không thích, thân – không thân, bạn – thù vv. Những phân biệt chia chẻ nhị nguyên này thường là điểm xuất phát của nhiều thứ phiền não khác như ích kỷ, ganh tỵ, thiên vị, thiếu bao dung hay đố kỵ, hiềm hận (xem Sakkapañhāsutta, DN) … Biết chăng những giá trị mà chúng ta gán cho đối tượng thì rất chủ quan, phiến diện và thường bị ảnh hưởng bởi cảm tính nên chúng không phải là những thước đo đáng tin cậy. Ý thức được điều này, người thiện trí không để cho những cảm tính chủ quan dẫn đến những tình cảm thiên vị hay đố kỵ, không phản ứng hay cư xử một cách hấp tấp, bốc đồng (react impulsively). Người thực hành rốt ráo những gì Phật dạy thì không xem ai là kẻ thù, nhìn tất cả chúng sinh bằng cái tâm bao dung, cởi mở và bình đẳng không phân biệt. Đây mới đích thực là tinh thần vô ngã của Đạo Phật.

Vô ngã không phải là xả mình hay quên mình cho một mục đích nào đó (cho người thân yêu, cho chủ nghĩa- lý tưởng mà mình tôn thờ, cho đất nước hay tôn giáo… - chúng ta sẽ bàn thêm ở phần sau - chúng chỉ là những giá trị mở rộng của bản ngã), mà vô ngã là không chấp thủ, vô phân biệt, bình đẳng và trung dung trước mọi cao - thấp, tốt - xấu, hơn – thua, được - mất, và thị phi của cuộc đời. Vô ngã không phải là quên mình, mà là biết mình, biết người nhưng không chấp thủ vì thấy được sự vận hành không ngừng của vạn pháp trong đó có cả những gì cấu trúc nên mỗi cá nhân. Sự vận hành đó có tính tương quan nhân duyên, khi những yếu tố như vậy, hoàn cảnh như vậy cùng xuất hiện thì hiện tượng như vậy sinh khởi, khi những yếu tố, điều kiện thay đổi thì sự vật, con người và các hiện tượng cũng thay đổi. Thấy được những thay đổi, vận động, hình thành và tan rã không ngừng trong mọi hiện hữu, chúng ta sẽ thôi chấp thủ vào một giá trị bất biến hay một bản ngã thường hằng đang tồn tại trong ta (ātman) hay ngoài tầm nhận thức của chúng ta (God or Brahma).

Phật không cho rằng có một soạn giả hay đạo diễn nào đằng sau những vở kịch cuộc đời này. Nó là một sự vận hành theo các qui luật vô ngã, hay nói theo ngôn ngữ thông thường, chúng là những qui luật tự nhiên có tính tương tác và chi phối lẫn nhau trong một sự vận động không ngừng. Nói như vậy không có nghĩa là mọi chuyện xảy ra một cách ngẫu nhiên và tuỳ hứng, và chúng ta không phải chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời mình. Thật ra phản ứng của chúng ta, cái phản ứng xuất phát từ khuynh hướng từ chối và thủ giữ của bản ngã chấp thủ quyết định phẩm chất của những kinh nghiệm mà chúng ta đã đi qua, đang là và sẽ gặp trong cuộc đời.

Cái bản ngã mà chúng ta tự tạo nên như một vỏ bọc để tồn tại, để chống lại những gì khiến chúng ta đau khổ, bất mãn vốn không thực. Do nhân duyên, hoàn cảnh, chúng đã được tạo nên và chúng có những giá trị đối trị nhất thời nhưng nếu chúng ta thủ giữ vào những hình mẫu giả tạo và lỗi thời này, chúng ta sẽ không bắt kịp nhịp độ vận hành tự nhiên của vạn pháp trong đó những gì cấu thành nên một nhân cách, một cá tính cũng đã thay đổi. Sự thủ giữ tất yếu sẽ dẫn đến xung đột ngay bên trong cá nhân đó cũng như xung đột trong các mối quan hệ của cá nhân đó với môi trường xung quanh.

Vì chúng ta chấp thủ cái thân này (sắc uẩn) là ta nên mới o bế, chiều chuộng và thoả mãn mọi đòi hỏi của nó. Nếu ai động đến nó, chúng ta cảm thấy bị tổn thương và căm hận tìm cách trả đũa. Vì xem thân là ta nên mới tránh lao tổn tấm thân đó vì người, người chấp thân là ta thì thường rất ích kỷ và không phục vụ ai cả, chỉ lo giữ lấy tấm thân lành lặn. Vì chấp thân là ta nên khi nó khỏe mạnh thì chúng ta hạnh phúc hồ hởi, khi nó bệnh hoạn đau ốm thì chúng ta sầu muộn lo âu, than thân trách phận. Khi thân đẹp đẽ trẻ trung thì kẻ đồng hoá với thân đó tự kiêu, ngã mạn; khi thân đó xấu xí, bệnh hoạn, và già nua thì người ta mặc cảm tự ti.

Chấp thủ vào thân thể hay vật chất thì mọi thay đổi, biến động từ chúng đều làm chúng ta bất an và lo lắng. Chấp thủ vào thân thể, vật chất, tài sản,.. là cấp độ thô thiển nhất (và cũng phổ biến nhất) của ngã chấp. Trong thuật ngữ Phật học , chúng được gọi là thân kiến (sakkayadiṭṭhi). Kế đến là chấp thủ vào cảm thọ, nhận thức (thọ uẩn và tưởng uẩn), như chúng ta đã đề cập sơ qua ở phần trên, đó là cái tâm phân biệt, đánh giá và phản ứng hấp tấp vội vàng. Từ những cảm nhận, đánh giá và phản ứng đó khiến sinh ra những tâm trạng tâm trạng vui -buồn, yêu ghét, vv (hành uẩn). Và những chất liệu vừa kể trên được tích trữ và làm nền cho những phản ứng mới một cách có ý thức hay bị điều động bởi vô thức (đều là thức uẩn) (xem Madhupinkasutta, MN) .

Khi có sự chấp thủ, nghĩa là có sự nắm bắt, sở hữu và giới hạn, vô hình chung chúng ta tự khoá mình, tự điều kiện hoá và giới hạn những cảm giác, nhận thức và thái độ hay phản ứng của chúng ta trong một cái khung nhất định gọi là bản ngã. Cái bản ngã đó đã được hình thành do nhiều yếu tố như gia đình, xã hội, những điều kiện thiên nhiên, văn hoá, giáo dục, lịch sử, và vv. Như đã bàn ở trên, những yếu tố, điều kiện đó vốn không ngừng thay đổi, nhưng sự thủ giữ lại đóng khung chúng ta lại trong một định kiến hẹp hòi và một hình mẫu lỗi thời khiến cho những phản ứng của cái bản ngã đó chỉ đem đến đau khổ, bức xúc vì thiếu hoà hợp với hoàn cảnh mới và không bắt kịp sự vận hành không ngừng của thế giới khách quan. Thực ra cái thế giới chủ quan (bản ngã) cũng vận động và biến hoá không ngừng, nhưng khuynh hướng thủ giữ lại cố từ chối, cố chống lại, cố điều khiển và thao túng những thay đổi đó, và chính cái ý chí chủ quan này là nguyên nhân của hầu hết những xung đột, đau khổ và tang thương trong đời.

Tại sao con người lại có khuynh hướng thủ giữ và tạo lập bản ngã?

Đức Phật nói đó là vì vô minh. Vô minh là một thuật ngữ Phật học để chỉ cho sự thiếu hiểu biết (ignorance) hay sự hiểu biết không đầy đủ (incomplete knowledge) và sự nhận thức bị bóp méo vì cảm quan cá nhân (vipallasa in Pāḷi, and parikalpita in Sansk.). Trên phương diện tâm lý, thủ giữ là một phản ứng có khuynh hướng tự duy trì nhân diện (identity) của bản thân. Không có một nhân diện, người ta sợ hãi và bất an (vì nhận thức) rằng mình không là ai cả, không là gì cả, là con số không. Bấp bênh và lo lắng, người ta sẵn sàng bám víu vào bất cứ một cái gì, dù chỉ là tạm thời, cho họ cảm giác mình đang tồn tại, đang hiện diện và phải được công nhận. Niềm khát khao được nhận ra, được chú ý và được quan tâm, được kính trọng khiến người ta phải tự tạo cho mình một nhân cách, một cá tính để khẳng định sự tồn tại độc lập và đặc biệt của mình. Thực ra thì hình thành hay duy trì một nhân cách hay một cá tính không có gì là sai trái cả, nhưng sự chấp chặt vào những ý kiến chủ quan và những phản ứng cảm tính mới làm thành vấn đề.

Đây là một xu hướng tâm lý khá tự nhiên và cực kỳ phổ biến đến nỗi không ai tự hỏi nó có cần thiết hay không. Chính vì nó được xem là ‘tự nhiên’ nên người ta không cưỡng lại sự thôi thúc có tính bản năng này, hay tệ hơn nữa là tìm mọi cách để ‘vật chất hoá’ những ý tưởng về mình. Khi những ý muốn này được chấp nhận trong điều kiện thực tế, người ta cảm thấy an tâm và tự tin hơn, chúng ta gọi họ là những kẻ thành đạt và hạnh phúc trong cuộc đời. Nhưng khi những ý muốn đó không gặp gỡ với thực tế cuộc sống (điều kiện bản thân- gia đình, điều kiện kinh tế, điều kiện văn hoá và xã hội, vv) thì thường có hai khả năng xảy ra: nó tự động biến đổi, ngụỵ trang để dễ chấp nhận hơn (defense mechanism), hoặc nó sẽ chán nản, thất chí và đơn phương tuyệt vọng chống lại toàn thế giới! (destructive behavious). Cả hai khả năng này đều là khổ đau, bất hạnh dù được dấu diếm che đậy hay lộ liễu một cách bất cần.

Trở lại với vấn đề vô ngã -vị tha, chỉ khi nhận thức rõ cả hai khía cạnh của bản ngã: tính chất giả tạo và tạm thời của nó, và những đau khổ- xung đột mà trong quá trình tạo lập và duy trì nó chúng ta phải trải qua, người ta mới bắt đầu xem xét lại và nghi ngờ về tính đích thực của những gì vừa trải nghiệm. Người ta thôi chụp bắt và thủ giữ, người ta buông bỏ những giá trị đã bị đóng khung và giới hạn vì thành kiến và định kiến. Người ta không còn bị đẩy tới vì những thúc dục như ‘phải chứng tỏ’, ‘phải hiện diện’, ‘phải cho thấy’, ‘phải chứng minh’, ‘phải đạt được’, vv. Chỉ những hành động không bị chi phối bởi tham, sân, si thì mới gọi là vô ngã, không vị kỷ, không chấp thủ. Một hành động vị tha thực sự phải xuất phát từ trí tuệ và lòng bi mẫn. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ bàn tiếp về vấn đề này.

Trong phần I chúng ta đã đặt ra câu hỏi phải chăng đạo Phật đưa người ta đến cái nhìn bi quan yếm thế trước cuộc đời, qua những phân tích về kinh nghiệm sống ở phần I và thủ chấp ở phần II thì chúng ta đã ít nhiều thấy rằng hiển nhiên là không như vậy.

Như một vị lương y sáng suốt và bi mẫn, Bụt (The Buddha) đã thấy rõ bệnh của chúng sinh: Khổ Đế chỉ là triệu chứng của bệnh, Tập Đế là nguyên nhân của bệnh, Diệt Đế là sự hòan toàn vắng bóng những nguyên nhân và triệu chứng đó, và Đạo Đế là phương cách để chuyển hoá, loại trừ các nguyên nhân và triệu chứng của bệnh. Như vậy, Tứ Diệu Đế là một phát hiện thực tế, hoàn hảo, logic và tuyệt vời nhất trong những khám phá về con người và cuộc sống. Người viết đang tự nghĩ không biết các nhà xét duyệt những giải thưởng Nobel có bao giờ nghĩ đến điều này chưa? Một phát hiện thiết thực, khoa học và đầy nhân bản như vậy hơn hai ngàn năm trăm năm trước mà cho đến bây giờ vẫn không được đánh giá và thẩm thấu đúng mức thì quả là một thiếu sót lớn.

Xung đột, vấp ngã và khổ đau là những bài học trong cuộc đời để chúng ta trưởng thành và trở nên nhân hậu hơn trước con người và cuộc sống. Những kinh nghiệm sống mà chúng ta đã đi qua, đang trải nghiệm và sẽ gặp trong đời không phải là những thưởng phạt của một Đấng toàn năng nào cả. Chúng được tạo ra bởi chúng ta, bởi những phản ứng của chúng ta trước các tình huống thực tế của cuộc sống.

Theo Đạo Phật thì mỗi người là vị kiến trúc sư của chính cuộc đời mình. Nếu ta phản ứng tiêu cực thì tình huống sẽ tồi tệ hơn, và cuộc sống sẽ đi xuống. Nếu ta phản ứng tích cực thì tình huống sẽ được cải thiện, và cuộc đời sẽ đi lên, ngày càng tốt đẹp hơn. Ở một mức độ nào đó chúng ta có quyền lựa chọn một cách sống tốt nhất cho chính mình, một hướng đi cho đời mình. Những gì chúng ta đang làm trong hiện tại quyết định tương lai của chúng ta, và những gì mà chúng ta đang trải qua bây giờ là kết quả của những tạo tác của chúng ta trong quá khứ. Với một tầm nhìn sâu rộng như vậy chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời vốn công bằng và không thiên vị- đó là qui luật của nghiệp - quả (karmanīyama), một trong năm qui luật điều động sự vận hành của cuộc sống.[*]

[*] Năm qui luật được bàn đến trong triết học Phật giáo là: (1) citta niyāma- qui luật của tâm, hay những nguyên tắc vận hành của tâm; (2) karmaṇiyāma- qui luật nghiệp quả; (3) utu Niyāma- qui luật của thời tiết, hay sự vận động của các mùa; (4) bīja niyāma- luật sinh học; và (5) dharma niyāma- Sự vận hành có tính tất yếu của pháp.

Bạn có thể nói rằng chúng ta không có quyền lựa chọn cha mẹ, giống nòi, đất nước và thời đại mà chúng ta đã sinh ra. Nhiều người đã than thân trách phận vì không xinh đẹp, không khoẻ mạnh, không sinh đúng thời, v.v… Làm như vậy thì có ích gì đâu? Theo qui luật của nghiệp thì do những người đó đã tạo tác những nghiệp bất thiện hay tiêu cực trong quá khứ (đời trước) nên nay mới sinh ra trong hoàn cảnh kém hấp dẫn như vậy. Nếu người đó vẫn có những phản ứng tiêu cực thì chỉ làm cho tình thế xấu hơn mà thôi.

Người viết đã từng gặp những người bị tâm thần vì ganh tỵ, thất vọng, thất chí hay thất tình. Trở nên tâm thần hay rối loạn thần kinh là kết quả của những phản ứng tiêu cực được lặp đi lặp lại thường xuyên khi nạn nhân (mà thực ra cũng là chủ mưu!) phải đối diện với một thực tế không như ý, hay những tình huống bi đát. Kể ra thì không ai trong chúng ta không từng gặp những hoàn cảnh ngang trái, những trái ý nghịch lòng trong cuộc đời, nhưng phản ứng ra sao trước những tình huống như vậy chính là chìa khoá của vấn đề. Và đây chính là cơ hội để chúng ta lựa chọn. Một sự lựa chọn thiếu sáng suốt sẽ đẫn đến những hậu quả tai hại, và ngược lại, một sự lựa chọn khôn ngoan và sáng suốt sẽ đem đến những thuận lợi.

Có lẽ chúng ta đều biết câu chuyện cổ tích "Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn". Bà hoàng hậu mẹ kế của Bạch Tuyết vốn rất xinh đẹp, đã được chọn làm hoàng hậu, nhưng bà này quá tham vọng và kiêu hãnh. Bà muốn rằng mình là kẻ đẹp nhất thế gian, và sẵn sàng tiêu diệt hay hạ thủ bất cứ địch thủ nào trong khả năng quyền lực của mình. Bà không chịu nổi khi nghe chiếc gương (thực ra là cái tâm kiêu hãnh, ngạo mạn, và đầy ganh tỵ của bà) nói rằng ngay trong hoàng cung có một người xinh đẹp hơn bà. Mù loà vì ganh tỵ và đố kỵ, bà đã làm một tội ác lớn mà kết quả cuối cùng là cái chết nhục nhã của chính bà.

Câu chuyện cổ tích đầy ý nghĩa khác là "Ông lão đánh cá và con cá vàng". Sự may mắn mà ông lão đánh cá có được là do kết quả của lòng từ bi của chính ông lão, nhưng những phần thưởng từ vị thần biển lại chỉ khiến người vợ tham lam một cách ngu ngốc của ông tạo nghiệp xấu. Lẽ ra phải hoan hỷ vui sướng với những gì chồng mình đem về, người vợ tham lam này chỉ biết tìm lỗi và đay nghiến chồng vì không mang về những thứ tốt hơn. Trong chúng ta có bao nhiêu người có những phản ứng và lựa chọn cách cư xử ngu ngốc như thế này trước những gì cuộc sống đem đến cho ta?

Nếu không có những đau khổ trong cuộc đời làm sao chúng ta biết khước từ những thú vui tạm bợ và hướng đến chân hạnh phúc của sự buông bỏ không thủ giữ? Nếu không thấy và trải nghiệm những khổ đau cay đắng trong đời, làm sao có thể sinh khởi lòng từ bi và bác ái? Nếu chúng ta biết rằng con người thì vốn bất toàn khiếm khuyết, những gì xảy ra trong cuộc đời chính là những thử thách và bài học để chúng ta tự hoàn thiện mình, thương mình và thương người một cách đúng đắn hơn thì tất cả những người mà ta đã gặp đều có những khía cạnh đáng thương, chúng ta sẽ trở nên nhân hậu và bao dung hơn trước con người và cuộc sống.

Tôi có một người bạn tuổi thơ sinh ra trong một gia đình nhiều con, nghèo nàn và lam lũ như nhiều đứa trẻ khác trong cái xóm núi heo hắt đó. Để bù lại, cô bé khoẻ mạnh, chân chất và rất hiếu thảo. Sau hơn mười năm xa nhà, tôi trở lại thăm quê, gặp lại những người bạn từ thời để chỏm mà nay hầu hết đã thành thiếu phụ, mẹ của vài ba đứa trẻ trạc tuổi chúng tôi hồi xưa. Chị tôi than thở và tỏ vẻ thương hại cho một người hàng xóm ‘xấu số’, chị cũng bóng gió trách cứ chồng mình không lanh lẹ bặt thiệp như người ta.

Khi tôi gặp lại cô bạn nhỏ đó tôi thấy bạn vẫn rất vui vẻ và thành thật như ngày xưa. Tôi hỏi bạn: bạn có hạnh phúc không? Bạn trả lời là "có". Tôi yêu cầu bạn giải thích vì sao bạn vẫn cảm thấy hạnh phúc, bạn nói: "Mặc dù mình lấy chồng khá muộn so với bạn bè (ở quê tôi con gái thường lấy chồng ở cỡ tuổi 16 – 22, sau cái tuổi đó mà chưa có chồng thì thường trở nên mối lo cho gia đình, sợ bị "ế chồng"!), và chồng mình lớn tuổi hơn nhiều, nhưng anh ấy rất hiểu vợ và rất tâm lý. Mặc dù sức khoẻ chồng mình nay rất yếu, cha mẹ chồng lại luôn bệnh hoạn, nhưng để bù lại, họ lại rất biết phải chăng, họ luôn cố gắng để không trở nên gánh nặng cho mình. Mình rất biết ơn những cố gắng đó của chồng và bố mẹ chồng. Các con mình tuy đều là gái, nhưng các cháu rất ngoan ngoãn và giúp đỡ mẹ trong những việc nhỏ mà các cháu có thể làm được, không bao giờ để cho mẹ phải nghe hàng xóm hay thầy cô giáo kêu ca về các cháu. Các cháu cũng không đòi hỏi những thứ mà nhiều đứa trẻ may mắn hơn có được. Mình rất yêu con vì chúng khoẻ mạnh và ngoan ngoãn như vậy. Mình phải làm việc rất vất vả để duy trì đời sống của sáu người, nhưng mình yêu lao động và cũng đã quen như vậy rồi."

Khi biết hoàn cảnh của bạn, tôi rất thương, nhưng khi nghe những gì bạn nói, tôi càng kính mến bạn hơn. Trong một hoàn cảnh có thể nói là kém may mắn như vậy mà bạn vẫn luôn lạc quan và duy trì được một sự quân bình đáng khâm phục. Bạn đã lựa chọn sự chấp nhận hoàn cảnh và có cách cư xử khôn ngoan đầy đạo nghĩa. Thay vì than oán trách móc số phận hầm hiu, bạn lại nỗ lực cải tạo hoàn cảnh và làm cho nó tốt đẹp hơn. Thay vì tìm lỗi người, bạn lại tìm những phẩm chất tốt đáng ca ngợi và trân trọng nơi những người kém may mắn khác. Không tự ti mặc cảm, bạn vẫn sống với thái độ tự tin và một tấm lòng đầy nhân ái và quan tâm đến người khác.

Khi bạn biết cám ơn và trân trọng tất cả những gì mà cuộc sống đem đến cho bạn, ít nhất lòng bạn sẽ không nổi sóng, và cuộc đời không có vẻ lắm phong ba bão tố. Nhưng khi bạn quá tham vọng và chỉ biết đòi hỏi thì ngay cả đã ở trong hoàn cảnh đầy thuận lợi, bạn cũng chỉ thấy thiếu thốn và không thoả mãn. Hạnh phúc an bình ở ngay nơi tâm ta, ngay nơi thái độ sống và cách cư xử của chúng ta trước những sự kiện, diễn biến của cuộc sống. Nếu chúng ta biết học những bài học trong đau khổ và trong những hoàn cảnh bất như ý thì chúng ta sẽ khôn lớn và nhân hậu hơn. Nếu bạn không chịu học từ những kinh nghiệm sống, bạn sẽ không ‘lên lớp’ được, sẽ phải vấp váp và đau khổ nữa vì chưa học xong bài học phải học trong cuộc sống. Chỉ có trí tuệ và lòng từ bi mới giúp chúng ta lèo lái con thuyền đời đến một bến bờ an toàn và tươi đẹp hơn.

Hãy lấy Từ Bi làm động lực cho cuộc sống, hãy dùng trí tuệ làm phương tiện thiện xảo, và ý chí vươn lên, tự vượt qua những yếu điểm của chính mình và của hoàn cảnh mà mình đã rơi vào chính là ‘dũng’. Dũng không phải là tranh đấu hơn thua với người khác mà dũng phải được hiểu là dám từ bỏ cái bản ngã ích kỷ hẹp hòi hay những quan điểm lỗi thời của chính mình để thấy được những gì to lớn tốt đẹp hơn ở phía trước.

Như ở trên chúng ta đã nói, chấp thủ chính là phản ứng của cái bản ngã yếu đuối để tự bảo vệ mình. Dũng là dám nhìn thẳng vào nó, gọi đúng tên những gì đang hiện hữu, chấp nhận và cải thiện nó với một thái độ tích cực. Nỗ lực ngăn ngừa những (tâm địa) xấu ác, tiêu cực chưa sinh, đừng để cho chúng sinh. Nỗ lực chuyển hoá và loại trừ những bất thiện pháp đã sinh, đừng để cho chúng bành trướng và điều động. Nỗ lực làm sinh khởi những thiện pháp chưa sinh, tạo điều kiện cho cái tốt hình thành. Và nỗ lực làm lớn mạnh những thiện pháp đã sinh, nuôi dưỡng những tâm niệm tốt lành chính là dũng. Kinh Pháp Cú dạy: "Giữa chiến trường thắng muôn quân địch không bằng tự thắng mình. Thắng mình chính là chiến thắng cao thượng nhất."

Khi một hành động có động lực là từ bi, được hướng dẫn bởi trí tuệ, và được thực hiện với lòng kiên trì và nhẫn nại thì đó chính là BI-TRÍ-DŨNG.

Khánh Hỷ
Nguồn: tangthuphathoc.net

 
bep dien tu, bep dien, bep tu,bep hong ngoai,Bếp điện từ, Bếp hồng ngoại, Bếp điện ,Bếp từ giá rẻ, Bếp từ, Bếp điện từ giá rẻ, bếp điện từ, bếp điện, bếp từ bếp điện từ bếp điện máy lọc nước bếp hồng ngoại
-------------------------------------- linhtuty